Song diện tú Tô Châu: Một tấm lụa thêu kể hai câu chuyện

Song diện tú Tô Châu là kỹ thuật thêu hai mặt nổi tiếng của Trung Quốc, trong đó, nghệ nhân có thể tạo ra hai hình ảnh khác nhau trên cùng một tấm lụa mà không để lộ bất kỳ nút chỉ hay mặt trái nào.

Trong nhiều loại hình thủ công truyền thống phương Đông, thêu Tô Châu, hay còn được biết đến với cái tên song diện tú, luôn được xem là biểu tượng của sự tinh xảo, không chỉ bởi vẻ tươi sắc và óng ánh của sợi tơ tằm, mà còn bởi khả năng biến những sợi chỉ mảnh mai gần như vô hình thành hình ảnh sống động. Ở cấp độ cao nhất, nghệ nhân có thể tạo ra đồng thời hai tác phẩm hoàn chỉnh trên cùng một tấm lụa mỏng mà không để lộ bất kỳ nút chỉ hay dấu vết kỹ thuật nào ở mặt trái. Cấp độ cao hơn là song diện tam dị tú, kỹ thuật thêu hai mặt mà ở đó cả hình ảnh, màu sắc lẫn kỹ pháp đi kim đều hoàn toàn khác nhau.

theu hai mat song dien tu To chau

Trên cùng một tấm lụa, hai mặt thêu có thể kể hai hình ảnh hoàn toàn đối lập: một bên là chú mèo mở to mắt đầy cảnh giác, bên còn lại lại nhắm mắt ngủ yên trong tác phẩm Sweet and Innocent (Tạm dịch: Ngọt ngào và hồn nhiên) của nghệ nhân Chen Shuiqin. Không chỉ vậy, hai mặt còn sử dụng màu sắc và kỹ pháp đi kim khác nhau, khiến tác phẩm thường được xem như ví dụ tiêu biểu cho đỉnh cao của song diện tam dị tú. Ảnh: Bộ sưu tập Trung tâm Di sản Văn hóa Phi vật thể Hàng Châu

theu hai mat song dien tu To chau

Bà Chen Shuiqin tốt nghiệp Trường Nghệ thuật và Thủ công Hàng Châu năm 1964, sau đó gia nhập Viện Nghiên cứu Nghệ thuật và Thủ công Hàng Châu, nơi bà đã cống hiến gần 60 năm cho nghiên cứu và sáng tác thêu. Ảnh: Học viện Truyền thông Hồ Nam

Từ Tô tú đến Song diện tam dị tú

Song diện tú bắt nguồn từ Tô tú – trường phái thêu truyền thống của vùng Tô Châu, tỉnh Giang Tô, và là một trong Tứ đại danh tú của Trung Quốc, bên cạnh Thục tú của Tứ Xuyên, Tương tú của Hồ Nam và Việt tú của Quảng Đông.

Theo nhiều ghi chép lịch sử, Tô tú đã xuất hiện từ thời Xuân Thu khi nước Ngô đã dùng thêu thùa trên y phục, và có những ghi chép rõ ràng hơn từ thời Tam Quốc. Phong cách và nền tảng kỹ thuật được định hình qua thời Tùy–Đường, các kỹ pháp cơ bản hoàn thiện dần qua thời Tống–Nguyên, trước khi đạt đỉnh cao vào thời Minh–Thanh, khi Tô Châu được mệnh danh là xứ thêu của cả nước. Chính trong giai đoạn này, nghề thêu phát triển mạnh đến mức hình thành hàng trăm phường thêu và cửa hiệu chuyên biệt, và theo nhiều ghi chép, gần như gia đình nào cũng nuôi tằm và làm nghề thêu.

Tô tú nổi tiếng với tám đặc trưng kỹ thuật, tóm gọn trong tám chữ: bình (mặt thêu phẳng), tề (mũi kim đều đặn), tế (chỉ mảnh), mật (sợi chỉ khít), hòa (màu sắc hài hòa), thuận (sợi tơ mượt mà), quang (màu sắc óng ánh) và quân (độ đồng đều). Ngoài đề tài hoa điểu hay sơn thủy truyền thống, nghệ nhân Tô tú đặc biệt nổi tiếng với tranh thêu động vật, nhờ khả năng tái hiện lớp lông, ánh mắt và chuyển sắc mềm mại với độ chân thực gần như nhiếp ảnh. Những tác phẩm thêu mèo, kim ngư hay chim thường được dẫn chiếu như minh chứng tiêu biểu cho đỉnh cao của dòng thêu Giang Nam.

song dien tu To chau

Tác phẩm Gaze đạt giải Vàng tại Triển lãm Nghệ thuật và Thủ công Mỹ nghệ Trung Quốc lần thứ 6 tại Hàng Châu. Ảnh: Gongmeiji

theu hai mat song dien tu To chau

Tác phẩm Three Kittens đạt đạt giải Vàng tại Triển lãm Nghệ thuật và Thủ công Mỹ nghệ Trung Quốc lần thứ 1 tại Thượng Hải. Ảnh: Gongmeiji

Từ nền tảng Tô tú, nghệ thuật thêu hai mặt dần xuất hiện vào cuối thời Thanh. Ở dạng sơ khai, song diện tú chủ yếu tạo ra cùng một hình ảnh trên cả hai mặt. Kỹ thuật này về sau tiến hóa thành song diện tam dị tú (thêu hai mặt ba khác biệt), nơi hai mặt của một tấm lụa không chỉ mang hình ảnh khác nhau, mà còn khác cả màu sắc lẫn kỹ pháp đi kim. Để thực hiện được điều đó, thông thường cần hai nghệ nhân cùng làm việc: mỗi người thêu trên một mặt, dùng hai kim hai chỉ riêng biệt, đồng thời phối hợp kết mũi cho nhau, đòi hỏi không chỉ kỹ thuật điêu luyện mà còn cả sự ăn ý tuyệt đối.

Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất của kỹ thuật này là tác phẩm Mẫu Ái (tạm dịch: Tình Mẫu Tử) của nghệ nhân Yao Jianping, người được UNESCO phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Thủ công Dân gian và được mệnh danh là Nữ hoàng Tô tú của Trung Quốc. Tác phẩm, được cho là mất khoảng một năm để hoàn thành, thể hiện hai hình ảnh về tình mẫu tử trong thế giới động vật trên cùng một bề mặt lụa, cho thấy khả năng kể hai câu chuyện song song mà không hình ảnh nào làm lộ sự tồn tại của hình ảnh kia.

song dien tu To chau

Hai người thợ thêu sẽ thêu họa tiết riêng của mình ở cả hai mặt của tác phẩm, đồng thời hỗ trợ nhau trong việc thêu mũi viền. Ảnh: Hiệp hội Thúc đẩy Dân chủ Trung Quốc

Những sợi tơ mảnh như tơ nhện

Về bản chất, song diện tú là nghệ thuật của độ chính xác cực hạn, tất cả bắt đầu từ nguyên liệu cơ bản nhất là tơ tằm. Kén tằm được luộc trong nước nóng để rút ra lớp tơ mảnh nhất, sau đó xử lý nhiều lần nhằm tạo độ mềm và độ bóng tự nhiên trước khi nhuộm màu bằng khoáng chất hoặc thực vật theo phương pháp truyền thống.

theu hai mat song dien tu To chau

Người thợ thêu tại xưởng làm việc của mình ở Tô Châu, Trung Quốc. Ảnh: Real In SHanghai

Điều đặc biệt nhất nằm ở công đoạn tách sợi. Nghệ nhân dùng ngón cái, ngón trỏ kẹp chặt sợi chỉ rồi dùng móng ngón út khẽ tách, lặp đi lặp lại cho đến khi một sợi tơ gốc được chia thành 16, 32, thậm chí 128 sợi mảnh hơn. Ở độ mảnh 1/128, sợi chỉ trở nên khó lấy nét ngay cả với ống kính máy ảnh, và nghệ nhân phải xâu kim gần như hoàn toàn bằng cảm giác. Chính độ mảnh ấy giúp tranh thêu Tô Châu tạo ra hiệu ứng ánh sáng từ bên trong, không phản chiếu như bề mặt thông thường mà như thể ánh sáng đang ẩn sâu trong từng lớp lụa.

song dien tu To chau

Ảnh: Real In SHanghai

theu hai mat song dien tu To chau

Ở các tác phẩm như White Spirit Offering Auspiciousness (Tạm dịch: Bạch linh dâng điềm lành), nghệ nhân còn sử dụng nhiều độ mảnh khác nhau của cùng một sợi tơ để tái hiện độ óng ánh của lông chim công trắng dưới ánh sáng. Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia Trung Quốc

song dien tu To chau theu hai mat

Trong tác phẩm Pomeranian (Tạm dịch: chó Phốc sóc), kỹ thuật phối chỉ dày mỏng giúp phần lông chó hiện lên mềm và xốp gần như thật. Ảnh: Bảo tàng Lụa Quốc gia Trung Quốc

Không chỉ tách sợi, nghệ nhân còn phải kiểm soát lực tay gần như tuyệt đối. Cổ tay luôn ở trạng thái thả lỏng và di chuyển liên tục để đường kim không bị lệch. Với song diện tú, chỉ cần một sai khác nhỏ trong hướng đi của mũi chỉ cũng có thể phá vỡ sự cân bằng của cả hai mặt tranh.

Khi kim chỉ thêu được dùng như hội họa

Trong nghề thêu Tô Châu, hàng chục kỹ pháp đi kim khác nhau, từ tề châm, sáo châm đến cướp châm, mỗi kiểu tạo ra một hiệu ứng riêng về ánh sáng, độ chuyển màu hay chất liệu bề mặt.

Bước ngoặt lớn nhất của Tô tú đến vào đầu thế kỷ 20, khi nghệ nhân Shen Shou (1874–1921), tên thật Shen Yunzhi, đã đưa vào thêu thùa các nguyên lý hội họa phương Tây như phối cảnh, ánh sáng và bóng đổ, mở ra dòng thêu mô phỏng với độ chân thực gần như ảnh chụp. Tiếp nối hướng đi đó, Yang Shouyu (1896–1981), người tốt nghiệp trường mỹ thuật và cho rằng nghệ nhân thêu cần được đào tạo hội họa, đã kết hợp thủ pháp bút mực và phối màu của tranh sơn dầu vào thêu thùa, sáng tạo kỹ thuật loạn châm độc đáo. Khác với những đường chỉ song song ngay ngắn của kỹ thuật truyền thống, loạn châm dùng các lớp chỉ giao nhau ở nhiều góc độ, tạo chiều sâu thị giác và độ biểu cảm gần với tranh sơn dầu hơn là thêu thủ công.

song dien tu To chau

Tác phẩm Elegant Pleasures of the Lotus Pond đạt giải Vàng tại Triển lãm Nghệ thuật và Thủ công Hàng Châu năm 2011. Ảnh: Bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật và Thủ công Hàng Châu

theu hai mat song dien tu To chau

Tác phẩm Immortals Welcoming the Morning Sun. Ảnh: Học viện Truyền thông Hồ Nam

Những cải tiến này đã đẩy Tô tú vượt khỏi vai trò thủ công trang trí thông thường, tiến gần hơn tới nghệ thuật tạo hình đương đại, nơi ánh sáng, chiều sâu không gian và chuyển động của sự vật được xử lý bằng tư duy hội họa. Ngoài kỹ thuật đi kim, khâu giấu chỉ cũng được xem là thử thách khó nhất của song diện tú. Toàn bộ đầu chỉ phải được ẩn hoàn toàn vào trong cấu trúc đường thêu, đến mức khi nhìn cả hai mặt, người xem gần như không thể xác định đâu là điểm bắt đầu hay kết thúc của tác phẩm.

Thêu hai mặt – Kỹ nghệ của sự kiên nhẫn

Với thêu Tô Châu, có những tác phẩm mất từ vài tháng đến nhiều năm để hoàn thành, với hàng triệu mũi kim liên tiếp. Những tác phẩm quy mô lớn đôi khi được thực hiện bởi hai nghệ nhân cùng lúc, mỗi người phụ trách một mặt của tấm lụa và phối hợp liên tục trong suốt quá trình thêu.

Trong số những nghệ nhân nổi bật của nghệ thuật này có Yao Jianping, người được mệnh danh là Nữ hoàng thêu Tô Châu, đại diện tiêu biểu của di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Trung Quốc và là nghệ nhân có nhiều tác phẩm được chọn làm quà tặng ngoại giao cấp nhà nước.

song dien tu To chau

Yao Jianping đã nhiều lần trình diễn nghệ thuật thêu ở nước ngoài và được truyền thông nước ngoài ca ngợi là hiện thân đích thực của nghệ thuật văn hóa phương Đông. Ảnh: Yao Jianping

Sau năm 1950, nhà nước thành lập Viện Nghiên cứu Thêu Tô Châu và mở các lớp đào tạo, từ đó hệ thống kỹ pháp đi kim của Tô tú được mở rộng từ 18 loại ban đầu lên hơn 40 loại. Từ những kỹ pháp ấy, các nghệ nhân đã tạo ra những tác phẩm mà ánh sáng, chiều sâu không gian và chuyển động của sự vật được xử lý gần giống hội họa hay nhiếp ảnh hơn là thêu thủ công thông thường.

Có lẽ điều khiến song diện tú vẫn còn gây kinh ngạc không chỉ nằm ở kỹ thuật giấu chỉ hay độ mảnh của sợi tơ, mà ở khả năng để hai hình ảnh hoàn toàn khác nhau cùng tồn tại trên một bề mặt duy nhất. Trên tấm lụa mỏng ấy, kim chỉ không còn đơn thuần là thủ công, mà trở thành một cách khác để kể chuyện — bằng thời gian, sự kiên nhẫn và những điều gần như vô hình.

Thực hiện: Vy Dương 


Xem thêm: 

Bernita Broderi – Đôi tay thêu làn tóc

Biểu đạt thẩm mỹ trong nghệ thuật sân khấu Kabuki

May chắp vá trong thiết kế nội thất bền vững