Từ thời dựng nước, nghề mộc và chạm khắc gỗ là một trong những lực đẩy quan trọng của đời sống kiến trúc. Kỹ thuật trang trí trên gỗ định hình như một ngôn ngữ mỹ thuật, không chỉ để làm đẹp các công trình, mà còn có khả năng kể câu chuyện của con người trong không gian sống ở từng giai đoạn cụ thể của lịch sử. Ở Bắc Bộ, những làng nghề chạm khắc gỗ lâu đời tồn tại đến ngày nay chính là minh chứng rõ nét cho dòng chảy ấy. Sơn Đồng (Hà Nội) hơn 1.000 năm tuổi, La Xuyên (Ninh Bình) khoảng 800 năm, Chàng Sơn (Hà Nội) trên 500 năm… Mỗi làng nghề là một “xưởng mỹ thuật dân gian” nơi bàn tay người thợ vừa kế thừa khuôn mẫu cổ nhân để lại, vừa sáng tạo những biến thể mới theo nhu cầu từng thời kỳ.

Mảng chạm rồng thời Mạc ở đình Tây Đằng, bước biến chuyển từ linh vật hoàng triều xuống tín ngưỡng dân gian.

Thợ chạm không chỉ làm nghề, mà còn là người lưu dấu những nét tinh hoa đương thời trên mảng chạm.

Tình mẫu tử quen thuộc qua hình tượng chim phượng che chở đàn con trên mảng chạm đình Chu Quyến.
Trong lịch sử, nghề chạm gỗ Việt không phát triển tuyến tính mà thăng trầm theo vận nước. Chiến tranh, loạn lạc khiến nhiều công trình bị hủy hoại, nhưng cũng chính vì thế mà những mảng chạm còn tồn tại đến hôm nay trở nên vô giá, soi chiếu trên đó bao nhân sinh quan, thế giới quan của con người.
Đặc biệt, các tác phẩm từ thời Mạc vẫn hiện diện nơi những ngôi đình cổ như Tây Đằng hay các thời kỳ tiếp sau trong chuỗi đình làng xứ Đoài. Ở đó, gỗ không chỉ là vật liệu kiến trúc mà là bề mặt của từng trang sử, kể về đời sống theo cách gần gũi, chân phương nhất. Nếu đem so sánh, ta sẽ thấy những mảng chạm cổ nơi xứ Đoài gây ấn tượng bởi tính tự do và sinh động. Không chỉ có rồng phượng, hoa lá, mà còn là cảnh người cưỡi trâu, đánh vật, uống rượu, múa hát. Nghệ thuật chạm khắc vượt khỏi khuôn khổ trang trí thuần túy để trở thành ký họa xã hội. Đó là nơi tín ngưỡng, lễ hội và đời sống nông thôn giao thoa trong cùng một bố cục.

Huệ kiếm, biểu tượng trí tuệ trong bộ bát bửu, mang nét chạm đầy tinh mĩ, hiện vật của đình Mông Phụ.

Mảng chạm trên các thanh xà hiên ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Mảng chạm ở đình Hương Canh, rồng với người đùa giỡn, vuốt râu, có hội đua thuyền, chứng tỏ đất nước đang thái bình, thịnh vượng.
Qua từng thế kỷ, phong cách chạm gỗ dịch chuyển rõ rệt. Thời Mạc mang tinh thần phóng khoáng, bố cục mở và giàu chất dân gian; các giai đoạn sau chú trọng hơn đến tính cân xứng, trật tự và quy phạm. Tuy vậy, điểm chung vẫn là sự khéo léo của đường nét, sự giản dị mà giàu biểu cảm. Nhìn vào một mảng chạm, người xem có thể nhận ra “tính cách” của người thợ nghề: hồn nhiên, mộc mạc nhưng không kém phần tinh tế.
Đường đục chạm không chỉ là kỹ thuật mà là kết quả của sự tôi luyện. Người thợ học cách lắng nghe thớ gỗ, nương theo vân gỗ để tạo hình. Bố cục được tính toán sao cho hài hòa với kiến trúc tổng thể: vì kèo, cột, xà, cửa võng… tất cả liên kết thành một chỉnh thể thẩm mỹ.

Thợ chạm là người hiểu rõ nét đẹp từng vân gỗ để vận dụng cho mảng chạm thêm hài hòa, đậm tính nghệ thuật.

Kiến trúc đình Chu Quyến với các mảng chạm trang trí độc đáo từ thế kỷ 17.
Từ nền tảng ấy, nghề chạm gỗ vẫn tiếp tục hành trình của mình. Từ các làng nghề Bắc Bộ, thợ mộc lan tỏa vào miền Trung và miền Nam, mang theo kỹ pháp cổ truyền để phục vụ các công trình mới, nhà thờ họ, đình chùa phục dựng, không gian thờ tự và cả nội thất đương đại. Nghề không chỉ sống bằng ký ức mà bằng sự thích nghi. Trong bối cảnh mỹ thuật hiện đại tìm kiếm những ngôn ngữ mới, chạm khắc gỗ Việt Nam vẫn giữ được bản sắc riêng. Đó là sự dung hòa giữa nghệ thuật và đời sống, giữa tín ngưỡng và sinh hoạt, giữa kỹ thuật và cảm xúc, giữa mộc mạc và tinh mỹ. Những mảng chạm còn lại từ quá khứ không chỉ là di sản, mà là lời nhắc rằng nghệ thuật chạm khắc gỗ Việt từng được hình thành từ chính bàn tay người thợ làng.
Nghề mộc và chạm gỗ, vì thế, không chỉ là một nghề thủ công. Nó là một hệ ký ức bằng gỗ – nơi mỗi đường nét trên gỗ lưu lại dấu vết của lịch sử, mỗi hoa văn mang theo nhịp thở của một thời đại. Trong tiếng đục chạm vang lên hôm nay, lớp thợ nghề mới thừa hưởng tinh hoa truyền đời, kết hợp những phương cách, dụng cụ, hỗ trợ hiện đại, nghề chạm khắc gỗ càng phát triển rực rỡ hơn, và trong âm vang ấy, vẫn hiện hữu sự tiếp nối bền bỉ của một thứ nghệ thuật đậm chất Việt.
Một số làng nghề mộc tiêu biểu:
– Sơn Đồng: trung tâm điêu khắc tượng và đồ thờ của miền bắc.
– La Xuyên: kỹ thuật tinh xảo trong trang trí đồ thờ tự.
– Chàng Sơn: đồ gỗ mỹ nghệ và chạm khắc trang trí.

Đề tài Long – Nghê trong trang trí kiến trúc đình Mông Phụ mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn.

Một số dụng cụ quen thuộc trong bộ đục của người thợ chạm Việt Nam.
Người Việt giữ nghề Việt
Nghệ thuật tượng thờ, kỹ thuật chạm khắc, cùng những tỉ mỉ của cẩn ốc xà cừ, thếp vàng bạc là chuỗi nghề truyền thống lâu đời. sản phẩm tạo ra đều là niềm tự hào, ngưỡng mộ để người Việt thêm chuyên tâm giữ nghề Việt, cho hôm nay và cả mai sau.
Thực hiện chuyên đề: Nguyễn Đình
Xem thêm: