Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và sự gia tăng của mật độ đô thị, việc đảm bảo tiện nghi nhiệt cho các công trình vùng nhiệt đới ẩm đang trở thành mục tiêu cốt lõi của kiến trúc bền vững. Khí hậu đặc trưng với bức xạ mặt trời lớn, nhiệt độ trung bình cao và độ ẩm không khí luôn cận mức bão hòa, đòi hỏi các giải pháp thiết kế phải có sự tính toán kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật.
Để giải quyết bài toán này, xu hướng kiến trúc hiện đại tại các quốc gia nhiệt đới đang hướng tới việc nghiên cứu và tích hợp các giá trị bản địa. Qua nhiều thế kỷ đối phó với tự nhiên, kiến trúc truyền thống tại các khu vực này đã hình thành nên những nguyên lý thích ứng khí hậu sâu sắc thông qua phương thức tổ chức không gian và lựa chọn vật liệu. Những kinh nghiệm mang tính thực tiễn cung cấp nền tảng quan trọng giúp các kiến trúc sư tối ưu hóa lớp vỏ công trình, giảm thiểu tác động tiêu cực của thời tiết mà không phụ thuộc quá mức vào năng lượng cơ học.

Nhà Bè House do Tropical Space thiết kế. Ảnh: Hiroyuki Oki
Hệ móng nâng cao và chiến lược cách ly độ ẩm từ nền đất
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, nền đất sẽ liên tục giải phóng hơi nước vào không khí. Đối với kiến trúc bản địa truyền thống tại các dải đất ven biển Đông Nam Á, vùng đồng bằng sông ngòi Bangladesh hay lưu vực Amazon, việc nâng cao sàn công trình bằng hệ cột gỗ hoặc tre là giải pháp thích ứng nguyên thủy cho tình trạng này. Về mặt vật lý kiến trúc, khoảng trống được tạo ra giữa sàn nhà và mặt đất không đơn thuần là một khoảng cách cơ học, mà hoạt động như một khoảng đệm khí động học quan trọng. Khoảng không này cho phép các luồng gió lưu thông liên tục, làm khô bề mặt dưới sàn và cắt đứt chuỗi mao dẫn của hơi ẩm ngược từ lòng đất lên cấu trúc chịu lực, từ đó ngăn ngừa hiện tượng tù hãm khí và ẩm mốc trong không gian sinh hoạt phía trên.

Ngôi nhà xanh tại Escazú, Costa Rica. Ảnh: Sergio Pucci
Nguyên lý này đã được kế thừa và nâng tầm trong kiến trúc đương đại thông qua các giải pháp kết cấu tiên tiến, giúp các công trình vừa kiểm soát độ ẩm bề mặt vừa thích ứng với biến đổi khí hậu. Một ví dụ điển hình là công trình Marika-Alderton của kiến trúc sư Glenn Murcutt tại vùng khí hậu gió mùa phía Bắc nước Úc. Ngôi nhà được thiết kế dựa trên nguyên lý sàn nâng và mái che, nhấc cao hoàn toàn khỏi mặt đất trên hệ khung thép và gỗ bản địa chịu lực. Việc nhấc bổng công trình không chỉ bảo vệ cấu trúc trước các đợt triều cường cục bộ hay hiện tượng ngập úng mùa mưa, mà còn tối ưu hóa luồng không khí di chuyển phía dưới sàn, giữ cho nội thất luôn ở trạng thái khô ráo và thông thoáng tự nhiên mà không cần đến hệ thống điều hòa cơ học.

Công trình Marika-Alderton, Australia. Ảnh: OZ.E.TECTURE
Đi xa hơn trong việc giải quyết mối đe dọa kép từ độ ẩm ngầm và lũ lụt, các giải pháp móng lưỡng cư (amphibious foundations) đã xuất hiện như một bước tiến mới của hệ móng nâng sàn. Tiêu biểu là các dự án cải tạo của Tổ chức Buoyant Foundation tại New Orleans (Mỹ) hoặc các mô hình nhà thích ứng tại vùng trũng Jakarta (Indonesia). Bằng cách tích hợp hệ khung cố định linh hoạt gắn kèm các khối vật liệu tạo sức nổi dưới sàn, công trình có thể tự động nâng hạ theo mực nước khi có triều cường hoặc lũ lụt, ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ ngập nước và ngậm ẩm cho lớp vỏ bên trong. Trong khi đó, tại các đô thị có mật độ xây dựng cao như Singapore, nguyên lý này lại được chuyển hóa thành thiết kế void decks trong các khu nhà ở xã hội. Thay vì chiếm dụng mặt đất bằng các khối đế đặc dễ gây cản gió và tích tụ độ ẩm, các tòa nhà chọc trời được nâng trên các hệ cột bệ, biến toàn bộ mặt bằng tầng trệt thành các hành lang lưu thông gió xuyên suốt, giải quyết bài toán thoát ẩm bề mặt cho toàn khu vực.

Một ngôi nhà gỗ truyền thống tại New Orleans được cải tạo thêm hệ thống phao nâng ngầm bên dưới trong dự án Buoyant Foundation. Ảnh: Sưu tầm
Tại Việt Nam, xu hướng thiết kế này cũng được phản ánh rõ nét qua các cấu trúc thích ứng thiên tai mang tính module, chẳng hạn như dự án Blooming Bamboo Home của H&P Architects. Công trình sử dụng hệ sàn tre nâng cao kết hợp với các hệ thống phao nhựa tái chế bố trí ngầm phía dưới, tạo ra một cấu trúc có khả năng tự nổi trong mùa lũ, đồng thời duy trì khoảng đệm không khí liên tục để ngăn ngừa hiện tượng ẩm mốc xâm nhập từ nền đất ngập úng của dải đất miền Trung, chứng minh rằng sự kết hợp giữa tư duy bản địa và công nghệ hiện đại hoàn toàn có thể tối ưu hóa vi khí hậu một cách bền vững.

Công trình Tổ ấm nở hoa của H&P Architects. Ảnh: H&P Architects
Thông gió tự nhiên
Trong các nghiên cứu về cải thiện vi khí hậu cho các vùng nhiệt đới ẩm, sự chuyển động của không khí được xem là giải pháp quan trọng để kiểm soát đồng thời cả nhiệt độ và độ ẩm. Dòng khí lưu thông không chỉ làm tăng tốc độ bay hơi mà còn cuốn trôi lượng hơi nước tích tụ trên bề mặt vật liệu. Nếu thiếu đi sự luân chuyển không khí liên tục, độ ẩm nội thất sẽ nhanh chóng đạt mức bão hòa, gặp bề mặt kết cấu có nhiệt độ thấp hơn sẽ gây ra hiện tượng ngưng tụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc và vi khuẩn phát triển, làm suy giảm chất lượng không khí trong nhà. Do đó, các giải pháp cải thiện vi khí hậu cho tình trạng này luôn xoay quanh ba nguyên lý động lực học dòng khí chính bao gồm thông gió xuyên phòng (cross-ventilation), hướng dòng khí (breezeways) và tận dụng hiệu ứng ống khói (stack-effect).
Tính hiệu quả của các giải pháp này được phản ánh rõ nét qua cấu trúc hình học của nhà ở truyền thống vùng nóng ẩm. Điển hình như mô hình nhà phố cổ tại Penang (Malaysia) hay Hội An (Việt Nam), với mặt bằng hẹp và kéo dài theo chiều sâu, luôn tích hợp các khoảng giếng trời ở giữa nhà. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa vùng không khí bị đốt nóng ở phía trên giếng trời và vùng không khí mát hơn ở tầng trệt tạo ra sự chênh lệch áp suất tự nhiên, hình thành hiệu ứng nhiệt áp (hiệu ứng ống khói) liên tục hút khí thải nóng ẩm ra ngoài và kéo không khí tươi từ mặt đứng vào sâu trong công trình. Bên cạnh đó, hệ thống cửa chớp (jalousie windows) phổ biến tại vùng Caribbean và Đông Nam Á cũng là một minh chứng cho tư duy thiết kế thích ứng, cho phép các nan cửa đón gió và lưu thông khí liên tục ngay cả trong điều kiện mưa dông, ngăn chặn tình trạng ngộp ẩm nội thất mà vẫn đảm bảo tính che chắn cơ học.

Hệ thống cửa chớp tại một căn shophouse, Singapore. Ảnh: Joanna Suyin
Khi chuyển sang quy mô cao tầng, áp lực giải tỏa nhiệt và độ ẩm đòi hỏi những thay đổi nhất định trong cấu trúc hình khối và độ rỗng của mặt đứng. Một công trình tiêu biểu là tòa nhà chọc trời The Met tại Bangkok (Thái Lan) do văn phòng kiến trúc WOHA thiết kế. Thay vì xây dựng một khối đặc bọc kính như các cao ốc phương Tây, WOHA đã chia nhỏ công trình thành sáu khối tháp mỏng được liên kết bằng các hành lang trên cao và các khoảng mở lớn sau mỗi vài tầng. Cấu trúc hyper-porous (siêu rỗng) hoạt động như các phễu đón gió ở cao độ lớn, chuyển hóa luồng gió mạnh thành các dòng khí vi mô nhẹ nhàng xuyên qua từng căn hộ từ mặt trước ra mặt sau, giúp loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ngưng tụ độ ẩm và giảm thiểu đáng kể thời gian vận hành của hệ thống điều hòa không khí.

Chung cư cao tầng The Met tại Bangkok, Thái Lan. Ảnh: Sưu tầm

Mặt bằng toà nhà với hệ thống hành lang liên kết 3 tòa tháp. Ảnh: Sưu tầm
Tại Việt Nam, xu hướng ứng dụng cơ chế thông gió tự nhiên dựa trên hình khối và mặt đứng cũng đạt được những hiệu quả rõ rệt, đáng chú ý là công trình Tòa nhà Hiệu bộ Đại học FPT Đà Nẵng của VTN Architects. Được tạo hình theo dạng một khối hộp với mặt đứng dạng bàn cờ, đan xen luân phiên giữa các ô đặc (bê tông, cây xanh) và ô rỗng (cửa sổ đặt lùi sâu), sự kết hợp giữa cấu trúc đục lỗ cùng sân trong trung tâm quy mô lớn đã tạo ra một hệ thống chênh lệch áp suất. Khi gió biển thổi vào mặt đứng, các ô rỗng đóng vai trò như các cửa thu gió, đẩy dòng khí lưu thông xuyên qua các phòng học và văn phòng, sau đó thoát ra qua sân trong. Chiến lược này không chỉ giải quyết vấn đề độ ẩm cục bộ đặc trưng của vùng duyên hải miền Trung mà còn tối ưu hóa ánh sáng tự nhiên, tạo ra một môi trường vi khí hậu tiện nghi cao cho người sử dụng.

Tòa nhà Hiệu bộ Đại học FPT Đà Nẵng của VTN Architects. Ảnh: Hiroyuki Oki và Hoang Le
Hình thái mái và cơ chế điều hòa biên độ nhiệt – ẩm
Phần mái là nơi gánh chịu đồng thời hai tác động trực tiếp của thời tiết: lượng mưa lớn theo mùa và bức xạ mặt trời liên tục với cường độ cao. Do đó, thiết kế mái tại các quốc gia nhiệt đới không chỉ đơn thuần là kết cấu che chở mà phải đóng vai trò như một bộ lọc vi khí hậu chủ động. Trong kiến trúc dân gian Đông Nam Á, hệ mái dốc lớn là giải pháp cho bài toán thoát nước, hạn chế tối đa nguy cơ thấm ngấm gây ẩm mốc cho cấu trúc bên trong. Khối tích không gian hình tháp bên dưới hệ mái dốc tạo ra một vùng đệm nhiệt tự nhiên; khí nóng có khối lượng riêng nhẹ hơn sẽ tích tụ tại phần đỉnh mái và thoát ra ngoài qua các đầu hồi hoặc khe hở, nhường chỗ cho dòng khí mát lưu thông ở không gian sinh hoạt phía dưới. Ngoài ra, việc sử dụng các vật liệu hữu cơ có độ rỗng xốp tự nhiên như lá cọ, cỏ tranh hay tre đan giúp mái nhà duy trì khả năng “thở”, cho phép hơi ẩm dễ dàng thẩm thấu xuyên qua thay vì bị bẫy lại bên trong công trình.
Công nghệ xây dựng hiện nay đã chuyển hóa các nguyên lý thoát ẩm và cách nhiệt truyền thống này thành các giải pháp kết cấu mái đa tầng và mái sinh thái thích ứng khí hậu. Thường thấy nhất là giải pháp mái nhà xanh, giúp giữ lại nước mưa để giảm áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị và ngăn hiện tượng tích tụ nhiệt lượng trên các bề mặt bê tông. Công trình tổ hợp Kampung Admiralty tại Singapore do văn phòng kiến trúc WOHA thiết kế là một trong những minh chứng điển hình, nơi hệ mái thảm thực vật nhiều lớp được tích hợp như một hệ thống thu hồi nước và làm mát bằng bay hơi, giúp hạ thấp nhiệt độ bề mặt cấu trúc và điều tiết độ ẩm không khí cho các không gian công cộng bên dưới.

Tòa nhà Kampung Admiralty quay mặt về hướng Tây, tích hợp công viên cộng đồng trên mái. Ảnh: WOHA Architects
Bên cạnh giải pháp mái sinh thái, các nghiên cứu về vật liệu cũng đưa vào ứng dụng các lớp phủ phản xạ bức xạ mặt trời cao (high-albedo coatings) kết hợp với các tấm mái có khe thông gió tầng đệm để thúc đẩy quá trình tản nhiệt chủ động. Ở những khu vực có độ ẩm và lượng mưa cực cao như vùng Amazon, công trình Tropical Shed tại Manaus (Brazil) của kiến trúc sư Laurent Troost đã tối ưu hóa hiệu quả vi khí hậu bằng cách sử dụng hệ mái đôi kết hợp giữa tôn mạ kẽm phản xạ và các lớp trần thông gió thoáng đãng.

Công trình Tropical Shed của Laurent Troost Architectures. Ảnh: Joana França

Ảnh: Joana França
Không gian đệm bán lộ thiên để cải thiện vi khí hậu cục bộ
Chủ động thiết lập các vùng vi khí hậu cục bộ bằng các không gian bán lộ thiên cũng là một trong những phương pháp kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ quan trọng. Về mặt vật lý, các khoảng không gian chuyển tiếp hoạt động như một bộ giảm chấn nhiệt áp, làm giảm sự chênh lệch áp suất và nhiệt độ đột ngột giữa môi trường bên trong và bên ngoài. Trong cấu trúc bản địa nhiệt đới ẩm, sân trong và hàng hiên sâu là hai cấu phần kinh điển thực hiện vai trò này. Sân trong hoạt động theo cơ chế phễu hút nhiệt, kéo dòng khí nóng lên cao và phân phối khí mát đến các gian phòng xung quanh. Khi được tích hợp thêm các yếu tố mặt nước và thảm thực vật, vùng sân trong này sẽ kích hoạt quá trình làm mát bằng bay hơi, hấp thụ nhiệt lượng của dòng khí và tăng cường tiện nghi nhiệt tổng thể. Tương tự, hệ thống hàng hiên rộng bao quanh nhà ở truyền thống Việt Nam hay kiến trúc nalukettu tại vùng Kerala (Ấn Độ) tạo ra một dải bóng râm liên tục, che chắn bức xạ mặt trời trực tiếp tác động lên hệ tường và cửa, đồng thời duy trì một dòng khí lưu thông nhẹ nhàng sát bề mặt công trình.

Một ngôi nhà truyền thống tại vùng Kerala, Ấn Độ, áp dụng giải pháp khoảng đệm lộ thiên bằng 2 khoảng sân nằm cạnh khu vực trung tâm thay vì chỉ có 1 khoảng sân trong như bình thường. Ảnh: Ar. Prasanth Mohan

Ảnh: Ar. Prasanth Mohan
Khi đối mặt với áp lực về mật độ và quỹ đất hạn chế tại các đô thị nén, tư duy kiến trúc đương đại đã chuyển dịch các không gian đệm từ bên ngoài và lõi cấu trúc của công trình. Một ví dụ tiêu biểu cho việc ứng dụng sân trong tích hợp hệ thống làm mát bằng bay hơi ở quy mô nhà ở là công trình Sky House tại thành phố Hồ Chí Minh do văn phòng MIA Design Studio thực hiện. Kiến trúc sư đã chủ động dành một nửa khối tích công trình để tạo ra các khoảng trống và giếng trời thông tầng lớn theo cả phương đứng lẫn phương ngang, kết hợp với các hồ nước và thảm thực vật dày đặc. Cấu trúc này thiết lập một hệ thống vi khí hậu nội khu tự điều tiết, nơi quá trình bay hơi của nước liên tục làm dịu không khí và duy trì độ ẩm ổn định, giúp giảm thiểu sự lệ thuộc vào các thiết bị làm mát cơ học trong điều kiện đặc trưng của đô thị nhiệt đới ẩm Việt Nam.

Công trình Sky House tại An Phú, Thành phố Hồ Chí Minh do văn phòng MIA Design Studio thực hiện. Ảnh: MIA Design Studio
Ở quy mô lớn hơn đối với các công trình công cộng, chiến lược hàng hiên sâu thích ứng khí hậu được thể hiện rõ nét qua tòa nhà SDE4 (School of Design and Environment) thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS), do Serie Architects và Multiply Architects hợp tác thiết kế. Là một công trình đạt tiêu chuẩn Net-Zero tại vùng xích đạo, SDE4 sở hữu hệ mái đua rộng hơn 16 mét và các hành lang, hàng hiên hở sâu dọc theo các mặt đứng. Hệ không gian bán lộ thiên này không chỉ bảo vệ các phòng học và phòng thí nghiệm khỏi mưa giông và bức xạ trực tiếp, mà còn tạo ra các vùng đệm khí động học, cho phép gió tự nhiên thổi qua để hạ nhiệt liên tục trước khi dòng khí tiếp xúc với không gian nội thất.

Tòa nhà SDE4 (School of Design and Environment) thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS), của Serie Architects và Multiply Architects. Ảnh: Rory Gardiner

Ảnh: Rory Gardiner
Ở cấp độ vĩ mô, tư duy tổ chức không gian đệm bán hở này đang được hồi sinh mạnh mẽ thông qua mô hình thành phố xốp (porous city design). Bằng cách tích hợp các tuyến hành lang xanh, sân trong chung của các khối phố và hệ thống lối đi bộ có mái che kết nối liên tục, quy hoạch đô thị hướng tới việc thiết lập một mạng lưới lưu thông khí động học xuyên suốt toàn đô thị. Sự phân bổ hợp lý các khoảng trống này kích hoạt cơ chế làm mát bằng bay hơi và thông gió tự nhiên ở quy mô lớn, từ đó giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và cải thiện chất lượng môi trường sống.
Các giải pháp cải thiện vi khí hậu được phân tích xuyên suốt bài viết không phải là những phát kiến độc lập mang tính thời điểm, mà là kết quả của một tiến trình tích lũy, tiến hóa và hoàn thiện liên tục từ kiến trúc dân gian cổ xưa cho đến các giải pháp công nghệ hiện đại.
Sự chuyển giao và nâng cấp các giải pháp vi khí hậu qua các thời kỳ lịch sử cũng cho thấy con người luôn có khả năng tìm kiếm lời giải cho các thách thức mới. Khi bối cảnh dịch chuyển từ quy mô thấp tầng, phân tán sang mật độ cao và chịu thêm áp lực từ biến đổi khí hậu, các nguyên lý cốt lõi về kiểm soát độ ẩm và điều hòa nhiệt độ vẫn giữ nguyên giá trị nhưng được tái cấu trúc dưới những hình thái hình học và công nghệ vật liệu tiên tiến hơn. Trí tuệ bản địa không bị thay thế mà trở thành bộ lọc, định hướng cho các sáng kiến đương đại đạt được hiệu quả năng lượng cao nhất.

Ảnh: Rory Gardiner
Dưới tác động gia tăng của biến đổi khí hậu và áp lực từ mật độ đô thị nén, việc tối ưu vi khí hậu trong các công trình vùng nhiệt đới ẩm đòi hỏi một tư duy thiết kế mang tính hệ thống và thích ứng cao. Thay vì phụ thuộc vào các hệ thống làm mát cơ học tiêu tốn năng lượng, xu hướng kiến trúc đương đại tập trung kế thừa và nâng tầm trí tuệ bản địa qua các giải pháp hình khối và công nghệ vật liệu mới. Bản chất của tiến trình này được biểu hiện qua bốn chiến lược thụ động then chốt: cách ly độ ẩm ngầm bằng kết cấu nâng sàn, thúc đẩy động lực học dòng khí chống ngưng tụ bề mặt, tối ưu hóa tản nhiệt nhờ kết cấu mái đa tầng, và chủ động thiết lập vi khí hậu cục bộ tại các không gian đệm chuyển tiếp.
1. Nếu các chiến lược làm mát thụ động hiệu quả như vậy, tại sao chúng ta không loại bỏ hoàn toàn hệ thống điều hòa không khí (HVAC) trong các công trình đô thị nhiệt đới hiện đại?
Các giải pháp thụ động nhằm mục đích giảm tải trọng nhiệt và ẩm, từ đó tối thiểu hóa thời gian và công suất vận hành của hệ thống cơ học, chứ không thể thay thế hoàn toàn trong mọi bối cảnh. Tại các đô thị nén hiện đại, ô nhiễm tiếng ồn, bụi mịn (PM2.5) và hiệu ứng đảo nhiệt đô thị quá lớn khiến việc mở cửa thông gió tự nhiên liên tục trở nên bất khả thi trong một số thời điểm.
Ngoài ra, vào những ngày nắng đứng gió hoặc giai đoạn nồm ẩm cực đoan, áp suất không khí không đủ chênh lệch để kích hoạt hiệu ứng ống khói hay thông gió xuyên phòng hiệu quả. Lúc này, công trình vẫn cần sự can thiệp của hệ thống cơ học để duy trì điều kiện tiện nghi bắt buộc. Do đó, đích đến của kiến trúc bền vững hiện nay là hệ thống tích hợp (Hybrid/Mixed-mode), kết hợp linh hoạt giữa thụ động và chủ động tùy theo kịch bản thời tiết thực tế.
2. Các vật liệu hữu cơ bản địa (như tre, gỗ, cỏ tranh) giúp công trình “thở” rất tốt nhưng lại dễ cháy. Kiến trúc hiện đại giải quyết bài toán độ bền này như thế nào?
Đây là thách thức lớn khi đưa vật liệu bản địa vào bối cảnh đô thị. Để giải quyết, các kiến trúc sư hiện đại áp dụng chiến lược biến tính vật liệu hoặc sử dụng vật liệu mô phỏng sinh học. Đối với tre và gỗ tự nhiên, công nghệ hiện nay áp dụng các phương pháp carbon hóa bề mặt, biến tính nhiệt hoặc ngâm tẩm hóa chất sinh học thân thiện với môi trường để triệt tiêu nguồn dinh dưỡng của mối mọt, chống mục nát và tăng khả năng kháng lửa mà không làm mất đi cấu trúc rỗng xốp nguyên bản.
Đối với các cấu trúc quy mô lớn, xu hướng mới là sử dụng vật liệu thay thế có đặc tính tương đương nhưng bền vững hơn dưới tác động thời tiết, ví dụ như bê tông cốt sợi thủy tinh, gạch đất nung không nung cường độ cao, hoặc hệ lam nhôm đục lỗ vi mô (micro-perforated aluminium louvers) nhằm vừa đảm bảo niên hạn sử dụng của công trình, vừa duy trì khả năng che nắng và thông thoáng.
3. Việc áp dụng các giải pháp vi khí hậu cải tiến như mặt đứng hai lớp, mái xanh hay sân trong có làm tăng chi phí đầu tư ban đầu của công trình không?
Xét về chi phí xây dựng ban đầu (CapEx), các giải pháp này thường làm tăng khoảng 5% đến 15% tổng ngân sách so với một công trình “khối hộp bọc kính” tiêu chuẩn, do đòi hỏi kỹ thuật kết cấu phức tạp hơn như gia cố chống thấm cho mái xanh hay lắp đặt hệ khung đỡ chịu tải cho mặt đứng hai lớp.
Tuy nhiên, nếu xét trên toàn bộ vòng đời công trình (Life-cycle cost), đây là một khoản đầu tư tối ưu về mặt kinh tế. Việc kiểm soát vi khí hậu thụ động giúp giảm từ 30% đến 50% chi phí năng lượng tiêu thụ cho việc làm mát và chiếu sáng nhân tạo hàng tháng. Thông thường, giá trị tiết kiệm năng lượng này sẽ giúp chủ đầu tư hoàn vốn phần chi phí chênh lệch ban đầu trong vòng 3 đến 7 năm vận hành đầu tiên, đồng thời làm tăng giá trị thương mại bền vững cho bất động sản.
4. Ngoài cấu trúc hình khối của bản thân tòa nhà, yếu tố cảnh quan ngoại vi và bề mặt sân bãi xung quanh ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả vi khí hậu nội khu?
Môi trường vi khí hậu bên trong công trình phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng của lớp đệm khí hậu bao quanh nó. Nếu một ngôi nhà được thiết kế thông gió xuyên phòng rất tốt nhưng xung quanh lại bị bao bọc bởi bề mặt đường nhựa, sân bê tông đặc, luồng khí hút vào nhà sẽ là luồng khí bị nung nóng do hiện tượng bức xạ ngược từ bề mặt tích nhiệt.
Vì vậy, thiết kế cảnh quan ngoại vi đóng vai trò quy định chất lượng gió đầu vào. Việc tổ chức cây xanh theo tầng tán (cây bóng mát tầm cao kết hợp thảm bụi tầm thấp) có thể hạ nhiệt độ không khí xung quanh xuống từ 2°C đến 4°C trước khi dẫn vào công trình. Đồng thời, việc thay thế sân bê tông bằng thảm cỏ hoặc các loại gạch tự chèn có lỗ thoáng (permeable pavers) sẽ giúp nền đất giữ được độ ẩm tự nhiên, ngăn hiện tượng tích nhiệt bề mặt và cải thiện trực tiếp hiệu quả làm mát cho ngôi nhà.
Thực hiện: Thuỳ Như | Theo: ArchDaily
Xem thêm:
Cách âm: Tiện nghi vô hình trong không gian cao cấp
Chuẩn bị cho mùa mưa: Từ sơn tường chống thấm đến giải pháp kiểm soát độ ẩm
Thạch anh và đá hoa cương: Những khác biệt phía sau diện mạo tương đồng