Bằng lăng (tên khoa học: Lagerstroemia speciosa) là loài cây quen thuộc trên các đường phố nhiệt đới, đồng thời mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc trong nhiều nền văn hóa châu Á. Tại Việt Nam, bằng lăng gắn liền với hình ảnh đường phố, sân trường và công viên, thường bung nở vào đầu mùa hè. Những chùm hoa tím trải dọc theo tán cây tạo nên một lớp màu đặc trưng, vừa rực rỡ, vừa dịu nhẹ, đánh dấu giai đoạn chuyển mùa rõ rệt trong năm.

Ảnh: Trịnh Đình Nghĩa
Loài hoa của những cánh rừng nguyên sinh
Bằng lăng thuộc chi Lagerstroemia, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Á, Đông Nam Á và Melanesia, nơi loài cây này sinh trưởng tự nhiên từ hàng nghìn năm trong các khu rừng nguyên sinh ven sông suối. Từ những hệ sinh thái bản địa này, cây dần mở rộng phạm vi sang nhiều quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Philippines, trước khi được đưa vào trồng phổ biến trong không gian đô thị như một loài cây cảnh quan đặc trưng.

Loài cây này được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau: jarul ở Ấn Độ, banaba ở Philippines, hay Pride of India và Queen’s Crape Myrtle trong tiếng Anh, phản ánh mức độ phổ biến rộng rãi của nó trong cả tự nhiên lẫn đời sống con người. Ảnh: Nursery Nisarga
Tên khoa học Lagerstroemia được đặt bởi nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carl Linnaeus để vinh danh người bạn Carl Magnus von Lagerström, Giám đốc Công ty Đông Ấn Thụy Điển, người đã thu thập nhiều mẫu thực vật quý từ Ấn Độ và Trung Quốc gửi về cho Linnaeus nghiên cứu. Loài cây này từng được ghi nhận trong sử thi Ramayana với tên gọi tiếng Sanskrit là Syandana.
Trong văn hóa Ấn Độ, bằng lăng gắn với ý nghĩa thịnh vượng và được liên hệ với thần Brahma trong thần thoại Hindu. Trong Phật giáo Theravada, loài cây này được cho là cây Bồ-đề, nơi đạt giác ngộ của một vị Phật trong hệ thống các vị Phật quá khứ.

Ảnh: Britt Patterson-Weber
Trong hệ thống Ayurveda của Ấn Độ, bằng lăng được ghi nhận là nguồn dược liệu dân gian, chủ yếu dưới dạng lá phơi khô để pha trà. Tại Philippines, banaba từ lâu đã được sử dụng trong y học dân gian để điều trị bệnh tiểu đường và các vấn đề về thận, với nghiên cứu khoa học đầu tiên được công bố vào năm 1940. Từ thập niên 1990, sức hút của loài thảo dược này bắt đầu thu hút sự quan tâm của giới khoa học toàn cầu, với nhiều nghiên cứu in vitro và in vivo liên tiếp xác nhận hoạt tính kháng tiểu đường của nó.
Hình thái theo từng vùng sinh thái
Bằng lăng là cây thân gỗ thuộc nhóm rụng lá theo mùa, với dáng thẳng và tán rộng. Khả năng thích nghi cao khiến hình thái của loài này thay đổi đáng kể tùy theo vùng sinh thái. Tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á, cây phát triển tự nhiên trong môi trường nhiệt đới, có thể cao từ 12 – 18m với tán rộng từ 9-12m. Thân cây thẳng, bề mặt tương đối nhẵn. Lá màu xanh lục, hình oval hoặc elip, dài khoảng 8-15cm, rụng theo mùa. Hoa thường có màu tím hoặc tím nhạt, mọc thành chùm dài từ 20-40 cm, nở rộ vào giữa mùa hè, mỗi bông gồm sáu cánh mỏng, dài khoảng 2-3,5 cm. Sau khi hoa tàn, quả nhỏ xuất hiện với sắc tím xanh khi còn non, rồi khô dần trên cây khi già.
Tại Việt Nam, dạng phổ biến nhất là bằng lăng tím, còn gọi là bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa), thường được trồng dọc đường phố, trong khuôn viên trường học và công viên. Tán lá xòe rộng, tạo bóng mát tốt; hoa tím đậm mọc thành chùm lớn, khi nở rộ có thể phủ kín toàn bộ tán cây, tạo nên một mảng màu đặc trưng trong cảnh quan đô thị.

Ảnh: Tư liệu
Ở các khu vực rừng núi, bằng lăng rừng sinh trưởng tự nhiên hoặc được trồng ven sườn đồi và dọc lối rừng với mục đích che phủ đất, giảm xói mòn và hạn chế sạt lở. Loài này vẫn mang sắc tím đặc trưng nhưng chùm hoa thường lớn hơn, tạo cảm giác hoang dại và mạnh mẽ hơn so với dạng đô thị.

Ảnh: Trịnh Đình Nghĩa
Một biến thể đáng chú ý là bằng lăng ổi (Lagerstroemia calyculata), còn được biết đến với tên bằng lăng cườm hay cây sang sẻ. Điểm khác biệt rõ nhất so với bằng lăng tím nằm ở màu hoa trắng và lá dày hơn, có lông ở mặt dưới. Nhờ vẻ ngoài nhẹ nhàng, trang nhã, loài này thường được ưa chuộng trong cảnh quan sân vườn và không gian tư nhân.

Ảnh: Evergreentrees
Ít gặp hơn trong cảnh quan đô thị là bằng lăng sẻ, còn gọi là cây tử vi (Lagerstroemia indica). Loài này có nguồn gốc từ các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên và tiểu lục địa Ấn Độ, hiện được trồng rải rác khắp các tỉnh thành Việt Nam trong nhiều không gian xanh khác nhau. So với bằng lăng tím, tử vi có thân nhỏ hơn, hoa màu nhạt hơn, và mang một đặc điểm hình thái thú vị chung của toàn chi: vỏ thân lột theo từng lớp hàng năm, tạo bề mặt loang lổ đặc trưng, một dấu hiệu nhận diện trực quan của chi Lagerstroemia trong tự nhiên.

Ảnh: Nature Nursery
Khi thực vật học trở thành nghệ thuật
Trong mỹ thuật phương Tây thế kỷ XIX, bằng lăng từng xuất hiện trong các minh họa thực vật mang tinh thần vừa khoa học vừa trang trí. Họa sĩ thực vật người Hà Lan Berthe Hoola van Nooten đã ghi lại hệ thực vật nhiệt đới Java qua bộ Fleurs, Fruits et Feuillages Choisis de l’Île de Java, trong đó những loài hoa có chùm tím hồng trải rộng như lớp giấy mỏng được tái hiện bằng kỹ thuật chromolithography với độ chính xác và vẻ đẹp thị giác hiếm có thời bấy giờ. Tinh thần tương tự hiện diện trong Plants of the Coast of Coromandel của nhà thực vật học người Scotland làm việc tại Ấn Độ William Roxburgh, người được xem là cha đẻ của ngành thực vật học Ấn Độ, với hơn 300 minh họa về hệ thực vật bản địa, thực hiện từ 1795 đến 1820.

Trong bộ Fleurs, Fruits et Feuillages Choisis de l’Île de Java, họa sĩ Berthe Hoola van Nooten đã vẽ loài bằng lăng này dưới tên Lagerstroemia regia. Ảnh: Wellcome Collection gallery
Tại Philippines và khu vực Đông Nam Á, hình ảnh bằng lăng tiếp tục được khai thác trong nghệ thuật minh họa đương đại. Nhà thiết kế đồ họa và họa sĩ minh họa người Philippines Raxenne Maniquiz duy trì một dự án cá nhân về các loài thực vật đặc hữu bắt đầu từ năm 2019, trong đó bao gồm cả banaba, với các bản phân bố minh họa thể hiện cam kết song song giữa sáng tác và nghiên cứu thực vật học. Trong dự án tranh tường tại Shake Shack Quezon City năm 2023, cô đã đưa hệ sinh thái thực vật bản địa Philippines, trong đó có cây banaba, vào không gian thương mại đô thị, biến nội thất thành một lớp cảnh quan thiên nhiên mở.

Ảnh: Francisco Manuel Blanco

Ảnh: The One Club

Con tem nằm trong bộ sưu tập “Indian Flowering Trees” được phát hành vào ngày 9 tháng 10 năm 1993. Bộ tem này bao gồm bốn thiết kế khác nhau, mỗi thiết kế minh họa một loài cây đặc trưng của Ấn Độ, thực hiện bởi nghệ sĩ Samanta. Ảnh: Post of India

Minh họa thực vật Lagerstroemia speciosa trong Plants of the Coast of Coromandel của William Roxburgh, ghi chép hệ thực vật vùng Coromandel Coast, Ấn Độ. Ảnh: Biodiversity Heritage Library
Trong hội họa Trung Quốc, bằng lăng mang một vị thế đặc biệt nhưng xuất hiện không quá dày đặc trong tranh văn nhân truyền thống. Loài cây này gắn với biểu tượng Tử Vi trong văn hóa cung đình, khiến nó mang tầng nghĩa quyền quý khác với sự thanh đạm mà các họa sĩ văn nhân thường hướng tới. Tuy vậy, một số họa sĩ thuộc Trường phái Thượng Hải đời Thanh như Ren Bonian (1840–1896), nổi tiếng với nét bút phóng khoáng và sắc màu táo bạo trong tranh hoa điểu, đã mở rộng đề tài ra ngoài khuôn khổ hội họa văn nhân truyền thống, tạo không gian cho những loài hoa ít được chú ý hơn xuất hiện trong bố cục.

Trích từ tác phẩm thư pháp/thơ 紫薇 (tạm dịch: Hoa tử vi/ Hoa bằng lăng sẻ) thời nhà Thanh được họa sĩ Ren Bonian viết vào một đêm thu năm Wuzi (1898) tại Shanyin (nay là Sơn Âm, tỉnh Chiết Giang), mô tả hoa bằng lăng sẻ nở rộ báo hiệu mùa chim chóc về. Ảnh: people.cn

Câu thơ “Đắc tử thu phong cận tử vi” trong bức họa “Wutong Birds and Purple Bauhinia” (梧禽紫薇图) của họa sĩ Wang Wu thời nhà Thanh. Tác phẩm khắc họa chim trên cây ngô đồng bên hoa bằng lăng sẻ trong gió thu, gợi hình ảnh con trẻ trở về là biểu tượng cho sự sum vầy và vẻ đẹp thiên nhiên hài hòa. Ảnh: people.cn
Tại Nhật Bản, dù không phải loài bản địa trung tâm như hoa anh đào, bằng lăng vẫn được nhìn nhận qua tinh thần ikebana và mỹ học mùa vụ. Trong cắm hoa, những cành bằng lăng được sử dụng như một nhịp chuyển mềm giữa tán lá và khoảng trống, nhấn mạnh vẻ đẹp của sự không hoàn hảo và tính tự nhiên trong cấu trúc. Cách tiếp cận này khiến bằng lăng không đơn thuần là một loài hoa, mà trở thành yếu tố tạo nhịp trong bố cục không gian.

Hình ảnh phía bên trái sử dụng chuyển động của các cành cây bằng lăng sẻ để làm nổi bật màu sắc của hoa. Hình ảnh phía bên phải là một bố cục hài hòa, tạo sự tương phản giữa dây leo và lá cây sắn dây với cây bằng lăng sẻ. Ảnh: Michitake Hirose trong Ikebana textbook

Ảnh: Michitake Hirose trong Ikebana textbook

Ảnh: @kodai_call

Ảnh: Shinto Kimiko
Cách trồng và chăm sóc
Bằng lăng là loài cây thân gỗ dễ thích nghi, sinh trưởng tốt trong khí hậu nhiệt đới và được trồng rộng rãi làm cây cảnh quan đường phố lẫn sân vườn. Cây ưa đất giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt và cần được cung cấp đủ ánh sáng trực tiếp. Tại Việt Nam, thời điểm trồng mới lý tưởng là đầu mùa mưa, khi độ ẩm đất cao giúp cây bén rễ nhanh hơn. Giai đoạn đầu, việc chăm sóc tập trung vào giữ ẩm đều đặn, làm sạch cỏ quanh gốc và bổ sung dinh dưỡng định kỳ để cây phát triển thân và tán ổn định.
Việc cắt tỉa nên được thực hiện vào cuối mùa khô, trước khi cây ra chồi mới. Đây là bước quan trọng để kích thích mầm non và tạo điều kiện cho mùa hoa sung mãn hơn. Một giai đoạn giảm tưới ngắn ngay trước mùa hoa cũng giúp cây chuyển sang trạng thái ra hoa; sau đó nước và dinh dưỡng được bổ sung trở lại để nuôi dưỡng chùm hoa. Ngắt bỏ hoa đã tàn cũng là thao tác đáng chú ý, giúp cây không tiêu hao năng lượng vào việc tạo quả và từ đó kích thích ra hoa liên tục hơn trong mùa. Khi được chăm sóc đúng nhịp, bằng lăng sẽ cho hoa đều, màu sắc đậm và bền hơn qua từng năm.

Ảnh: Trịnh Đình Nghĩa
Bằng lăng là loài cây thân gỗ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, nổi bật với sắc tím rực rỡ đặc trưng thường nở rộ vào mỗi dịp đầu hè. Không chỉ đóng vai trò là cây cảnh quan đô thị giúp tạo bóng mát và chống xói mòn, bằng lăng còn mang giá trị văn hóa, y học lâu đời và là nguồn cảm hứng phong phú trong nghệ thuật hội họa, thời trang tại nhiều quốc gia.
Thực hiện: Vy Dương
1. Hoa bằng lăng có nguồn gốc từ đâu và thường nở vào thời gian nào trong năm?
Bằng lăng có nguồn gốc từ các khu rừng nguyên sinh ven sông suối tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Loài hoa này thường nở rộ vào đầu hoặc giữa mùa hè.
2. Ngoài giá trị làm cảnh, cây bằng lăng còn có công dụng gì?
Trong y học cổ truyền (Ayurveda và y học dân gian Philippines), lá bằng lăng được dùng làm trà hoặc dược liệu chăm sóc sức khỏe. Trong bảo vệ môi trường, bằng lăng rừng được trồng để che phủ đất, giảm xói mòn và hạn chế sạt lở.
3. Có những biến thể hình thái nào của cây bằng lăng được nhắc đến trong bài?
Các biến thể bao gồm: bằng lăng tím (bằng lăng nước) phổ biến ở đô thị; bằng lăng rừng có chùm hoa lớn và hoang dại hơn; bằng lăng ổi (bằng lăng hoa trắng) mang sắc trắng tinh khôi; và cây chỉ bằng lăng (tử vi) phổ biến ở Đông Á và châu Úc.
4. Để cây ra hoa đều và bền màu, cần lưu ý kỹ thuật chăm sóc đặc biệt nào?
Cần cắt tỉa cây trước mùa hoa để kích thích mầm mới, đồng thời thực hiện giảm tưới nước trong một thời gian ngắn để cây chuyển sang giai đoạn ra hoa, sau đó mới bổ sung lại nước và dinh dưỡng để nuôi chùm hoa
Xem thêm:
Hoa anh đào: Nét đẹp mong manh của mùa xuân