Chuyến xe giường nằm Sài Gòn – Phú Yên rời Bến Xe Miền Đông Mới lúc 11 giờ đêm. Hơn bảy tiếng lăn bánh trên cao tốc, đoàn chúng tôi dừng chân tại bến xe liên tỉnh Phú Lâm để đến Làng Lò khi ánh ban mai đã tràn khắp. Đã lâu lắm rồi chúng tôi mới lại có được một hành trình như thế này, vừa du lịch, vừa cùng nhau đi sáng tác.
Cảm giác thân quen ùa về
Phú Lâm là một thị trấn nhỏ nằm phía nam thành phố Tuy Hòa cũ. Từ bến xe, dịch vụ trung chuyển đưa chúng tôi đến ngã ba đầu một đoạn đường Hùng Vương rẽ vào phía Làng Lò. Vừa bước xuống xe, một cảm giác trong veo ùa đến, mang theo không khí mùi biển quen thuộc thoang thoảng trong nắng chan hòa của đất trời miền Trung.
Người đeo ba lô, người ôm túi xách, các bạn trong đoàn còn chia nhau mỗi người vác thêm vài khung tranh lắp sẵn để chuẩn bị cho buổi triển lãm. Trong chuyến đi ký họa và trực họa lần này, chúng tôi mang theo đúng 30 khung còn trống, vừa vặn với khổ giấy A3. Nhìn bên ngoài trông gọn gàng, nhưng sau một đêm chợp mắt trên xe, vác từng ấy khung tranh đi sâu vào Làng Lò cũng không phải chuyện nhỏ.
Cảm giác ấy bất chợt kéo tôi trở về những năm tháng cũ thời thập kỷ 90, khi tôi cùng các bạn trong lớp vẽ ở Tuy Hòa được các thầy dẫn đi trực họa khắp các chân trời ngõ hẻm của miền đất Phú Yên. Đoàn chúng tôi cứ thế cuốc bộ đến điểm tập trung. Dọc đường, những căn nhà mới được tân trang xen kẽ với những mái nhà, hàng quán còn giữ nguyên cách bài trí theo nếp sống cũ. Với người từng lớn lên ở vùng đất này như tôi, có thể cảm nhận được một điều gì đó đang dần thay đổi, hứa hẹn nhiều điều thú vị, nhiều thứ để vẽ.

Ảnh: NVCC
Điểm hẹn và những người bạn
Điểm tập trung của chúng tôi là sân trong một căn homestay gây ấn tượng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Đây vốn là nhà cổ của một vị Trưởng Lạch, tuy đã được tân trang phần nào theo lối mới, nhưng vẫn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc bên ngoài của căn nhà chính từ thuở ban đầu. Về căn nhà này, có nhiều điều thú vị mà tôi sẽ kể thêm, bởi nơi đây mang trong mình không ít câu chuyện, thậm chí cả những truyền thuyết gắn bó sâu xa với đời sống ngư dân vùng này, qua lời kể của anh bạn chủ nhà.
Khi đoàn chúng tôi đến nơi mới hay rằng các bạn từ Đà Nẵng đã có mặt từ rất sớm, khoảng 4 giờ sáng. Họ gửi cho chúng tôi xem những tấm hình chụp cảnh ngồi đợi trong ánh đèn tờ mờ lay lắt trên con đường còn phủ hơi sương. Các bạn sinh viên trường Đại Học Xây Dựng Miền Trung cùng cô giảng viên đã đợi sẵn trong sân. Một không khí hồ hởi lan ra, một cảm giác chỉ có ở những buổi đi vẽ ký họa mới có được.
Hành lý vừa được tập kết trong sân và chưa kịp làm gì khác, chúng tôi liền gọi cả đoàn tập trung thành vòng tròn. Đề tài và lịch trình buổi vẽ cần được phổ biến nhanh bởi một khi mặt trời lên cao, cái nắng miền Trung sẽ không nhân nhượng, mà vẽ ngoài trời như thế thì hao sức lắm. Màn giới thiệu làm quen diễn ra chớp nhoáng, mỗi người chỉ có vài ba giây để nói tên và công việc của mình.

Ảnh: NVCC
Bất ngờ thay, trong số những người có mặt hôm đó còn có vài người bạn cũ của tôi, những người quen từ thời còn là học sinh phổ thông ở trường Nguyễn Huệ. Sau một thời gian nếm đủ khói bụi Sài Thành, các bạn đã chuyển về sinh sống và làm việc ngay tại Làng Lò. Tôi cũng được biết thêm rằng một đoàn từ Buôn Đôn và một đoàn từ Gia Lai đang trên đường đến, theo lời mời từ ban tổ chức.
Hành trình khám phá và vẽ lại di sản
Chủ đề của chuyến ký họa và trực họa lần này là “Vẽ lại di sản”. Mỗi người mang theo họa cụ riêng rồi tỏa ra khắp ngõ hẻm. Không biết khi nhìn ngắm ở từng góc độ khác nhau, những tác phẩm sẽ hiện ra như thế nào đây? Dù từng lớn lên ở Phú Yên, tôi phải thú nhận rằng những hiểu biết của mình về Làng Lò quả là ít ỏi, một thiếu sót mà chuyến đi lần này may thay đã phần nào bù đắp lại.

Ảnh: NVCC
Theo lời kể của người dân địa phương, Làng Lò thuộc xã Hòa Hiệp, tỉnh Phú Yên cũ, nay thuộc một phần của tỉnh Đắk Lắk. Ngôi làng đã có lịch sử hơn 400 năm, gắn liền với quá trình khai phá và an cư lập nghiệp dọc theo dải đất ven biển miền Trung. Tên gọi bắt nguồn từ những chiếc lò hấp, lò sấy cá mà ngư dân dựng lên để bảo quản hải sản sau mỗi chuyến ra khơi. Người già trong làng vẫn còn nhớ những “tuần trăng đầy cá”, khi cả làng đỏ lửa suốt đêm, hấp sấy hải sản để mang lên miền ngược. Qua nhiều thế hệ, làng phát triển thành một quần thể rộng lớn sống bằng nghề chài lưới, chia làm ba khu vực chính: Lò 1, Lò 2 và Lò 3. Chỗ chúng tôi đang đứng là Lò 3, nơi có khoảng hơn 1.500 ngư hộ đang sinh sống.
Tìm hiểu thêm, tôi mới biết Làng Lò nằm bên một phía của sông Bàn Thạch, một trong hai con sông lớn nhất Phú Yên, hoàn toàn tách biệt với sông Đà Rằng về nguồn cội. Sông Bàn Thạch đổ ra biển qua cửa Đà Nông. Thú vị là ở phía cửa biển có một con lạch chạy dọc song song với bờ. Có thể vì lý do đó mà người dân gọi ông trưởng thôn là “Trưởng Lạch”. Bởi nơi đây vốn là chỗ neo đậu lý tưởng cho thuyền bè, một điểm tựa sống còn giữa những trận gió bão kinh khủng của miền Trung, điều mà chỉ những người đã trải qua mới thấu hiểu tường tận. Tôi đoán rằng chính điều kiện địa lý “trong sông ngoài biển” ấy đã khiến ngư dân chọn Làng Lò làm nơi cư ngụ lâu dài.

Ảnh: NVCC

Ảnh: NVCC
Đứng ở Làng Lò nhìn về phía Nam, bên trái là biển, bên phải là cánh đồng rộng lớn của vùng Đông Hòa, và đằng xa là núi Đá Bia, một vùng đất lịch sử mà kể ra chắc tốn hàng chục trang giấy chưa hết. Là làng ngư dân, Làng Lò còn lưu giữ nhiều tập tục truyền thống như một bảo tàng sống. Lễ hội cầu ngư tưởng nhớ cá Ông, được tổ chức với các nghi thức cúng tế trang trọng, kèm theo hát bả trạo, lối hát dân gian mô phỏng cảnh chèo thuyền, vừa mang tính tín ngưỡng, vừa là sợi dây gắn kết cộng đồng. Nơi đây cũng nổi tiếng với hội đua thuyền trên sông Ngọn, cùng các nghề truyền thống như làm mắm, bánh tráng, cá trụng…
Nhiều thứ quá. Làm sao trong vỏn vẹn hai ngày, chúng tôi có thể thấu hiểu và chạm đến trọn vẹn cái hồn của nơi này?
Ký ức tuổi thơ trong ngôi nhà ba gian
Tôi và một số anh em trong đoàn được các bạn địa phương nhiệt tình hỗ trợ bằng xe máy, chở thẳng đến một địa điểm bên trong làng, nơi có khu nhà ba gian nối liền nhau san sát. Người nhà đang sinh sống ở đây cho biết tất cả đều thuộc về một gia đình lớn, các căn nhà nhỏ được tiếp nối qua bốn năm đời, có căn từ thời ông cố ông kỵ truyền lại, nay thuộc về chú này hay bác kia.
Nhìn thấy nhà ba gian miền Trung, với tôi luôn là một cảm giác quen thuộc. Từ lúc còn nhỏ, tôi đã từng sống, từng rong chơi trong ngôi nhà ba gian của ông bà nội, không khác mấy so với những căn nhà đang hiện ra trước mắt tôi lúc này. Lớn lên, tôi mới hiểu thêm rằng kiểu kiến trúc ấy không chỉ là truyền thống, mà còn là một giải pháp thích ứng tinh tế với khí hậu khắc nghiệt của vùng đất miền Trung, một bản thiết kế truyền đời, được đúc kết cô đọng qua nhiều thế hệ.

Ảnh: NVCC
Ngôi nhà thường có ba gian chính. Gian giữa rộng nhất, dành để thờ cúng tổ tiên. Cách bài trí ấy nói lên tất cả về đời sống tín ngưỡng bản địa, nơi vị trí của ông bà và các nghi lễ thờ phụng luôn được đặt vào trung tâm của mái ấm. Gian bên trái nhìn từ ngoài vào là nơi tiếp khách, tụ họp gia đình trong những dịp quan trọng như Lễ Tết, cưới hỏi hay giỗ chạp. Gian bên phải là không gian sinh hoạt và nghỉ ngơi riêng tư, thường là một phòng ngủ với chiếc giường áp sát vách. Chính trong một không gian tương tự như thế ở nhà ông bà nội, má tôi đã chăm sóc hai anh em tôi từ lúc mỗi đứa mới lọt lòng. Tiếp theo đó, qua một cánh cửa nhỏ, thường là phòng ăn và lối dẫn ra phía sau bếp. Những gia đình có điều kiện hơn thì dựng thêm một dãy nhà phụ bên phải, nối với nhà chính qua một hành lang rộng.
Mái nhà ba gian thường lợp ngói đỏ truyền thống như ngói âm dương, ngói vảy cá hay ngói lưỡi hài. Những ngôi nhà xây dựng về sau thường dùng ngói kiểu mới, trông hiện đại hơn. Dù kiểu nào, mái cũng luôn có độ dốc lớn để thoát nước nhanh, chống chịu mưa bão. Vật liệu bên trong thay đổi theo từng thời kỳ: gỗ mít, gỗ xoan, tường đất sét trộn rơm bện quanh khung tre nứa, bên ngoài phủ lớp vôi cát dày. Về sau, người ta chuyển sang gạch nung, trát vữa và quét vôi nhiều màu. Cách làm ấy vừa giữ mát mùa hè, vừa chắn lạnh khi gió bấc tràn về.

Ảnh: NVCC

Ảnh: NVCC
Phía trước mỗi căn nhà bao giờ cũng là một khoảng sân rộng láng xi măng, nơi phơi phóng hải sản ở Làng Lò, hay lúa rơm ở những vùng khác. Hiên nhà cao hơn sân chừng ba bậc, rộng và thoáng, thường láng đất nện hoặc gạch bông. Nhờ khoảng hiên ấy mà bên trong nhà lúc nào cũng mát. Trần hiên được đóng bằng tre bện đất sét sơn vôi, hoặc gỗ, tùy theo điều kiện của mỗi nhà.
Đứng trước một căn nhà lạ, chuẩn bị bày họa cụ ra vẽ, mà lòng cứ miên man về những kỷ niệm với ông bà nội ở cái hiên nhà cũ ngày xưa. Bà nội tôi hay để mấy chậu nước trước hiên cho tiện múc những hôm trời oi nóng, khỏi phải đi ra tận giếng ngoài sân. Cũng ở cái hiên ấy, mỗi sáng tinh mơ, bà ngồi nhóm bếp than để nấu ấm nước, vừa quạt bếp vừa huyên thuyên trò chuyện với ông, trong khi ông đang nhấm nháp trà ở gian phòng khách kế bên. Ông bà luôn có thói quen dậy sớm, uống trà đường phèn, ăn bát cháo trắng với xì dầu, rồi sửa soạn ra đồng. Không hiểu sao, đứng giữa Làng Lò lúc này, tất cả những ký ức ấy lại ùa về rõ mồn một. Gần gũi đến nỗi tưởng như chỉ mới hôm qua.

Ảnh: NVCC
Căn nhà ba gian trước mắt tôi có bố cục đối xứng, cân bằng, hướng chính quay về Nam để đón gió mát. Mỗi gian đều trổ một cửa hai cánh mở ra phía hiên, phía trên có bông gió để lấy không khí và tạo đối lưu. Mặt sau nhà thường bịt kín, chỉ chừa những cửa thật sự cần thiết để ra sân sau, bởi mùa đông, gió bấc luồn từ phía đó lạnh lắm. Mặt hông theo hướng đông tây, chính vì thế mà lối kiến trúc này rất phù hợp để chắn gió bão.
Những ngôi nhà ở Làng Lò được xây từ thập niên 50 đến 80, nên kiến trúc và trang trí ở đây đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của trào lưu hiện đại: đá rửa màu xám, những thức cột kiểu mới, các mảng lam che nắng với bố cục trang trí thời thượng. Màu sắc cũng đa dạng không kém, có căn nhã nhặn, có căn rực rỡ như lối sơn thuyền xanh đỏ đậm màu, tươi tắn và đầy cá tính.

Ảnh: NVCC

Tất cả những chi tiết ấy đều được chúng tôi ghi lại bằng các nét ký họa sinh động. Cứ mải mê vẽ một hồi, đến tận trưa mới sực nhớ đã đến giờ tập trung trở về sân trong. Chúng tôi dặn nhau: buổi trưa về nghỉ ngơi, nạp năng lượng bằng những món ngon từ bếp nhà.
Dưới ánh nắng lao xao trước sân, chúng tôi trải tranh trên nền gạch. Người trong nhà hồ hởi vây quanh mấy chục bức còn chưa ráo mực. Người trầm trồ, người rút điện thoại ra chụp, người ngắm nghía mãi không thôi, người thì ngạc nhiên khi thấy căn nhà của mình hiện lên sống động trên trang giấy. Những ánh mắt nhìn nhau thật chân thành.
Chúng tôi biết đây mới chỉ là một phần của buổi sáng. Phía trước còn cả một buổi chiều thú vị đang đợi, và câu hỏi còn bỏ ngỏ: những bức nào sẽ được chọn để trưng bày vào tối nay?
(Còn tiếp)
Bài và ảnh: KTS Lê Quang Hiếu
Về KTS Lê Quang Hiếu
KTS Lê Quang Hiếu là thành viên tích cực của nhóm Urban Sketchers Vietnam và nhà sáng lập nhóm Archists Atelier. Với anh, nghệ thuật và kiến trúc không tách rời, nguồn cảm hứng sáng tác luôn được tìm thấy trong việc ghi lại vẻ đẹp của không gian, từ kiến trúc, cảnh quan đến nội thất.
Ảnh: NVCC
Xem thêm
