Cát Tiên là một cái tên mang nhiều tầng nghĩa. Người Mạ kể về bãi cát nơi các nàng tiên giáng trần trong những huyền thoại được truyền qua bao thế hệ; người khác lại cho rằng cái tên ấy được đặt trong những năm tháng kháng chiến gian khó. Dù khởi nguồn từ đâu, Cát Tiên ngày nay đã trở thành một trong những biểu tượng sinh thái hiếm hoi còn sót lại của Việt Nam, hoang dã mà bền bỉ, yên tĩnh mà đầy sức sống.
Từng đi qua chiến tranh, những cánh rừng của Vườn quốc gia Cát Tiên vẫn giữ được gần như nguyên vẹn cấu trúc nguyên sinh của mình. Năm 1992, nơi đây chính thức được thành lập thành vườn quốc gia, một bước ngoặt trong tư duy bảo tồn của Việt Nam. Chưa đầy một thập kỷ sau, UNESCO công nhận Cát Tiên là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới. Đến năm 2005, vùng lõi Bàu Sấu được ghi danh theo Công ước Ramsar, gia nhập mạng lưới những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng toàn cầu.

Một góc VQG Cát Tiên nhìn từ trên cao. Ảnh: Báo Lâm Đồng

Ảnh: Báo Nhân Dân
Kiến trúc của những cánh rừng
Nằm ở vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ xuống đồng bằng Nam Bộ, địa hình Cát Tiên mang những nét đặc trưng của phần cuối dãy Trường Sơn. Ở đây có năm dạng địa hình chính là núi cao dốc ở phía bắc, núi trung bình ở tây nam, đồi thấp bằng phẳng ở đông nam, bậc thềm sông Đồng Nai và các bãi bồi xen kẽ hồ đầm lầy. Độ cao giảm dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông, với đỉnh cao nhất 626m ở Lộc Bắc và thấp nhất 115m tại Núi Tượng.

Ảnh: Jackfruit Adventure
Tùy theo địa hình và chế độ nước, rừng Cát Tiên được chia thành năm kiểu chính. Trên những vùng đất cao và dốc là rừng lá rộng thường xanh với những cây họ Dầu, họ Đậu rậm rạp quanh năm. Dọc theo các triền sông, rừng nửa rụng lá thay áo theo mùa, trơ trụi trong những tháng khô để rồi đâm chồi nảy lộc khi mưa về. Xen giữa là những khu rừng hỗn giao tre nứa, nơi các loài tre mọc chen với cây gỗ, hay những quần thể tre nứa thuần loại trên đất đã từng bị tác động. Thấp nhất là những cánh rừng ngập nước theo mùa, nơi cây cối và sinh vật thích nghi với nhịp lên xuống của dòng nước.

Cây Tung cổ thụ hơn 400 tuổi đồ sộ giữa rừng. Ảnh: Sưu tầm
Đi sâu vào bên trong, những cây gỗ lớn như giáng hương, cẩm lai, dầu, sến sừng sững như những cột đá cổ thụ. Trên thân chúng, phong lan bám vào khoe sắc, dây leo quấn quýt, dương xỉ vươn lá, tất cả tạo nên một hệ sinh thái thu nhỏ trên từng thân cây. Các nhà thực vật học tìm thấy ở đây nhiều loài chỉ có ở Cát Tiên và vùng phụ cận như Thiên tuế Đồng Nai, Vệ tuyến ngọt, biến nơi đây thành một phòng thí nghiệm sống quý giá.
Thế giới động vật đa sắc màu
Vườn quốc gia Cát Tiên là một trong những điểm quan sát chim quan trọng nhất khu vực rừng phía Nam, với hàng trăm loài sinh sống, trong đó có 31 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Từ già đẫy, giang sen đến cò quắm cánh xanh, âm thanh và màu sắc phủ đầy những tầng tán rừng. Đặc biệt, sự xuất hiện trở lại của gà so cổ hung vào năm 1997, loài từng được cho là tuyệt chủng, đã trở thành một dấu mốc đáng nhớ trong giới bảo tồn.

Gà so cổ hung. Ảnh: VinWonders

Già đẫy Java. Ảnh: Elena Gaillard
Dưới tán rừng rậm của Vườn quốc gia Cát Tiên, nhiều loài thú lớn vẫn âm thầm sinh tồn và phát triển. Nơi đây được xem là một trong số ít khu rừng ở Việt Nam còn giữ được khả năng quan sát động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên. Bên cạnh nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, Cát Tiên vẫn ghi nhận sự hiện diện của những cái tên quý hiếm như hổ, gấu ngựa, gấu chó, voi, báo gấm, beo lửa, sói đỏ hay vượn má vàng. Những biểu tượng của hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn tương đối nguyên vẹn.

Ảnh: VQG Cát Tiên

Ảnh: Lao động Thủ đô
Về bò sát, các nhà khoa học đã thống kê có 79 loài, trong đó, 23 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam như cá sấu xiêm, trăn đất hay trăn gấm. Hệ cá gồm 133 loài, với một loài được xếp hạng trong Sách Đỏ IUCN là cá rồng, cùng tám loài khác có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Riêng côn trùng đã ghi nhận được 751 loài, trong đó có 457 loài bướm, bên cạnh nhiều nhóm cánh cứng, cánh vảy vẫn đang tiếp tục được phân loại và nghiên cứu.
Vào cuối tháng 4 đến tháng 5, thời điểm giao mùa giữa khô và những cơn mưa đầu tiên, rừng bước vào một nhịp điệu khác. Bướm xuất hiện dày hơn dọc các lối mòn và muồng đào bắt đầu nở rộ, tạo nên một trong những khoảnh khắc đặc trưng nhất của Cát Tiên trong năm.
Bàu Sấu – Trái tim nước của đại ngàn
Giữa lòng Vườn quốc gia Cát Tiên, vùng đất ngập nước Bàu Sấu hiện ra như một thế giới khác, yên lặng, mênh mang và đầy sức sống tiềm ẩn. Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Chăm cổ, có nghĩa là “hồ nước nơi nhiều cá sấu sinh sống”. Với tổng diện tích hơn 13.700 ha, trong đó có 151 ha ngập nước quanh năm và hơn 5.300 ha ngập theo mùa, Bàu Sấu là khu Ramsar thứ hai của Việt Nam, và là một trong những vùng đất ngập nước nội địa hiếm hoi còn giữ được trạng thái gần như nguyên sơ.

Ảnh: Nycterix
Theo nhịp mùa, Bàu Sấu chuyển mình từ mặt nước mênh mang phủ sen súng trong mùa mưa sang những bãi bồi trù phú mùa khô, nơi chim chóc và thú lớn cùng tìm về kiếm ăn, uống nước. Hệ sinh thái nơi đây — với đầm lầy bán ngập, rừng tràm và thảm cỏ ngập nước theo mùa, đóng vai trò như một “bình sạc sinh học” khổng lồ, lưu trữ và điều tiết nguồn nước cho toàn bộ khu vực. Ngoài cá sấu Xiêm, Bàu Sấu còn là không gian sống của bò tót, nai, lợn rừng, nhiều loài chim nước và các loài linh trưởng như khỉ đuôi dài, khỉ vàng má. Tổng cộng, 82 loài động vật có vú, 318 loài chim, 58 loài bò sát và 28 loài lưỡng cư đã được ghi nhận tại đây, một mật độ đa dạng sinh học hiếm có ở bất kỳ hệ sinh thái đất ngập nước nào trên thế giới.
Nhưng có lẽ câu chuyện đáng kể nhất ở Bàu Sấu là hành trình hồi sinh của cá sấu Xiêm, loài động vật từng bị xem là đã tuyệt chủng hoàn toàn trong tự nhiên vào đầu thập niên 1990. Từ năm 2000, dự án tái thả cá sấu được triển khai và ghi nhận số lượng cá thể tăng trưởng mạnh mẽ, từ 92 con năm 2013 lên gần 300 con vào năm 2019.

Khu vực đất ngập nước Bàu Sấu được Công ước Ramsar công nhận (phần diện tích được đánh dấu bằng đường viền màu tím). Ảnh: Vườn quốc gia Cát Tiên
Với vai trò là khu Ramsar, Bàu Sấu không chỉ là nơi cư trú của nhiều loài thủy sinh mà còn đóng vai trò như bộ điều tiết nước tự nhiên của cả vùng. Vào mùa mưa, khu đất này giúp giữ nước, giảm áp lực lũ cho hạ du còn mùa khô thì nhả nước dần, duy trì dòng chảy và nuôi dưỡng hệ sinh thái xung quanh.
Bảo tồn và phát triển bền vững
Bảo tồn tại Cát Tiên không chỉ là câu chuyện của kiểm lâm hay nhà khoa học, mà là một cấu trúc vận hành đa tầng: nghiên cứu dài hạn, tuần tra thực địa và sự tham gia ngày càng chủ động của cộng đồng vùng đệm. Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của USAID và Chính phủ Hàn Quốc thông qua Tổ chức Hợp tác Rừng Châu Á (AFoCO), các đội tuần tra dựa vào cộng đồng được thành lập, công nghệ giám sát động vật hoang dã được ứng dụng rộng rãi hơn, và người dân địa phương dần trở thành những người gác rừng đúng nghĩa, không phải vì quy định, mà vì sinh kế của họ gắn liền với sự tồn tại của khu rừng này. Năm 2024, những nỗ lực đó được quốc tế ghi nhận khi Cát Tiên trở thành vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam đạt danh hiệu Danh lục Xanh IUCN, một bộ tiêu chuẩn toàn cầu dành cho các khu bảo tồn đã chứng minh được kết quả bảo tồn thực chất.

Ảnh: VQG Cát Tiên

Ảnh: Nguyen Quang Vinh
Du lịch sinh thái tại đây được thiết kế theo hướng chậm rãi và có kiểm soát. Những chuyến đi bộ xuyên rừng, quan sát chim lúc bình minh hay thám hiểm đêm đều đặt yếu tố tôn trọng thiên nhiên lên hàng đầu. Du khách được hướng dẫn kỹ về khoảng cách an toàn với động vật hoang dã, tuyệt đối không cho ăn, không xả rác. Xa hơn, mô hình phát triển tại đây còn kết nối vùng lõi sinh thái với cộng đồng nông thôn xung quanh: từ những homestay do người Mạ và K’Ho tự quản lý, đến các trang trại cà phê hữu cơ ở Nam Cát Tiên nơi du khách có thể tham gia trọn vẹn một quy trình thu hoạch.
Thực hiện: Vy Dương
Xem thêm:
Hang động Sơn Đoòng: Kỳ quan ngầm của thiên nhiên