Rối Nước: Chuyện ít kể trên mặt nước

Có một sân khấu không cần màn nhung, không cần cánh gà, chỉ cần mặt nước và những đôi bàn tay ẩn dưới làn sóng. Ở đó, những câu chuyện ngàn năm vẫn đang được kể mỗi buổi trình diễn.

Tiếng trống cái vang lên, dàn nhạc kéo không khí sân khấu sôi động dồn dập. Trên mặt nước, một vệt sóng mảnh lướt qua, rồi Tễu xuất hiện. Mắt miệng cùng nở nụ cười to, Tễu vừa nói, vừa chỉ tay, vừa giao lưu với khán giả. Đảo một vòng trên mặt nước, Tễu biến mất, liền tức thì hai con rồng gỗ trồi lên mặt nước uốn lượn. Khán giả reo lên hào hứng. Rồng phun nước rồi liên tục xoay vòng, thân mình lấp lánh, không khí vui nhộn được đẩy lên cao thì bỗng nhiên rồng biến mất dưới mặt nước. Khán giả vừa kịp định thần thì ở một góc khác, chú bé chăn trâu thảnh thơi thổi sáo; nối tiếp là hai ông bà chăn vịt hốt hoảng vì cáo rình bắt vịt. Cứ như vậy, từng trò diễn tiếp nối nhau trên mặt nước không lúc nào phẳng lặng. Kể chuyện trên mặt nước chẳng cần diễn giải hay phiên dịch, mà lạ lùng thay ai cũng hiểu.

roi nuoc linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa một cảnh múa rối nước.

Tấm bia đá năm 1121 và cột mốc xuất ngoại 1984

Rối nước thường được nhắc đến như một di sản có tuổi đời gần một thiên niên kỷ. Một trong những cứ liệu quan trọng là văn bia Sùng Thiện Diên Linh (dựng năm 1121, thời Lý), ghi nhận việc thả quân rối rùa đội ba quả núi, biểu diễn mừng sinh nhật vua. Từ dấu mốc ấy, người ta hình dung được một thời kỳ mà hội làng, tín ngưỡng và thực hành biểu diễn nghệ thuật rối đã đủ chín để đẩy một trò diễn dân gian trở thành sân khấu được phục vụ cho vua quan.

Bên cạnh đó, nếu chỉ nhìn rối nước như một sân khấu lâu đời, có lẽ khán giả sẽ bỏ lỡ điều cốt lõi: rối nước sinh ra từ điều kiện sống rất cụ thể của cư dân trồng lúa; những vùng đồng bằng sông ngòi dày đặc, ao hồ và ruộng nước bủa vây đời sống vật chất lẫn tinh thần. Nói cách khác, rối nước không phải “đặt sân khấu lên nước” cho khác lạ; rối nước là cách người Việt biến chính môi trường sống thân quen của mình thành sân khấu biểu diễn.

linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa những quân rối đời sống nông nghiệp.

Sau một thời gian dài ẩn mình trong mạch ngầm làng quê Việt Nam, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, Rối Nước bước ra thế giới với hình hài của một bộ môn nghệ thuật cổ truyền với vẹn nguyên nét tạo hình “ngây thơ” của những nghệ nhân dân gian ngàn năm trước. Năm 1984, lần đầu tiên, Đoàn Nghệ thuật sân khấu dân tộc Việt Nam đưa Rối Nước cùng ba loại hình truyền thống khác là tuồng, chèo, cải lương đã “đem chuông đi đánh xứ người” ở Đức, Bỉ, Pháp, Italy… ròng rã hai tháng trời. Công chúng trời tây có lẽ đã vô cùng ấn tượng với “nghệ thuật Ngây Thơ” của Rối Nước Việt Nam, vậy nên một tờ báo Pháp khi đó đã định danh cho môn nghệ thuật với những con rối duyên dáng này là Linh hồn của đồng ruộng Việt Nam

roi nuoc linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa chuyến lưu diễn năm 1984.

Nước và ánh sáng

Nghệ sĩ Ngô Quỳnh Giao từng chia sẻ, khi mang rối nước đi lưu diễn nước ngoài, nghệ sĩ các nước bạn phải cảm thán rằng: “Sân khấu của họ, để tính toán cho một diễn viên xuất hiện và biến mất thì cần phải sắp đặt lớp lang tình huống. Còn với múa rối nước, mặt nước là sân khấu. những quân rối chỉ cần trồi lên hay lặn xuống mặt nước là có thể thoắt ẩn thoắt hiện được rồi.

Trong nghệ thuật Múa Rối Nước, mặt nước thường được ví von như một nhân vật ẩn của vở diễn. Nước vừa che giấu quân rối, vừa cộng hưởng với chuyển động của từng tiết mục. Nước vừa tạo lực nổi giúp các khớp chuyển động tự nhiên, vừa tạo lực cản để người diễn viên tận dụng xoay vòng quân rối. Hơn tất cả, khoảnh khắc rèm sân khấu mở ra, mặt nước phản quang ánh sáng hắt lên lên thủy đình, khung cảnh lung linh lúc ấy là sự khởi đầu cho mọi hành trình kể chuyện trên mặt nước.

Vậy mà cũng có lúc, chính mặt nước lại là thử thách mà người nghệ sĩ phải xử lý khi đi lưu diễn. Theo chia sẻ vui của nghệ sĩ Ngô Quỳnh Giao, đi lưu diễn nước ngoài, nhiều sân khấu nhà hát không chịu nổi sức nặng của khối lượng nước lớn, nên đôi khi phải giảm mực nước trong thủy đình biểu diễn. Điều này khiến cho đoàn diễn viên phải cưa ngắn chiều cao của sào điều khiển để có thể biển diễn trong mực nước thấp.

linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa thủy đinh di động khi đi lưu diễn.

Một con rối đi qua bảy lớp sản xuất

Tưởng rối nước chỉ là vài con rối sơn màu rực rỡ, nhưng để một nhân vật có thể “sống” trên mặt nước, nó phải đi qua một quy trình dài và tỉ mỉ. Theo mô tả về nghề, chế tác rối có thể gồm bảy bước: Tạo mẫu – Làm khối – Đục đẽo – Chà nhám – Làm vóc – Thếp bạc – Lắp máy. Trung bình, để hoàn thiện một bộ rối khoảng 170 quân, có thể cần hơn hai tháng.

roi nuoc linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa 7 bước làm rối.

Rối nước là của Việt Nam

Một hiểu lầm phổ biến là rối nước Việt Nam bắt nguồn từ rối nước Trung Quốc. Lập luận phản biện từng được một nhà nghiên cứu âm nhạc và văn hóa cổ truyền như giáo sư Trần Văn Khê lý giải dựa trên hai điểm: 

  1. Cách thức biểu diễn khác nhau căn bản, trong đó rối nước Việt Nam là người diễn viên đứng dưới nước điều khiển rối, sào và dây được giấu dưới mặt nước. Còn rối nước Trung Quốc là người diễn viên đứng trên bờ rồi cầm sào điều khiển con rối trên mặt nước.
  2. Thời điểm xuất hiện tương đồng, vào khoảng đầu thế kỷ 12, nhưng chỉ rối nước Việt Nam còn được lưu truyền và biểu diễn rộng rãi đến ngày nay.

Điều đáng nói là sự nhầm lẫn không hẳn bắt nguồn từ ác ý, mà thường đến từ thói quen gom mọi hình thức múa rối châu Á vào một chiếc rổ chung. Thế nhưng, chỉ cần đặt câu hỏi về cách thức biểu diễn thì khác biệt lập tức hiện ra. Điều này được nhắc lại để một lần nữa khẳng định nghệ thuật múa rối nước là loại hình biểu diễn duy nhất chỉ Việt Nam mới có.

linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa giáo sư Trần Văn Khê.

“Rối nước không có gì mới” – Một lầm tưởng phổ biến

Thực tế là các nhà hát và nghệ sĩ múa rối vẫn thường xuyên sáng tạo mẫu rối mới, cách dàn dựng mới cũng như kỹ thuật biểu diễn mới. Có những ví dụ về tạo hình cách tân, như nhân vật Nàng Tiên Cá trong vở rối nước cùng tên do nghệ sĩ Ngô Quỳnh Giao thực hiện. Quân rối được thiết kế để “giấu” phần chân bên dưới mặt nước, rồi đúng khoảnh khắc nàng tiên cá uống thuốc thần mọc chân thì người diễn viên tách phần đuôi ra rồi từ từ nâng quân rối lên cao hơn mặt nước để lộ ra phần chân.

roi nuoc linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa quân rối nàng tiên cá.

Hay như vở rối Trê Cóc do NSND Nguyễn Tiến Dũng dàn dựng năm 2019, từng được giải thưởng liên hoan múa rối quốc tế tại Hà Nội năm 2019. Quân rối Quan Rùa được thiết kế để có thể biểu diễn cả trên cạn lẫn dưới nước. Khi mới xuất hiện, Quan Rùa là một quân rối cạn. Đến giữa phiên xử án thì Quan Rùa từ từ trườn mình xuống nước, trở thành một quân rối nước.

linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa quân rối Quan Rùa.

roi nuoc linh luong nghe thuat bieu dien truyen thong

Hình minh họa vở diễn Bay lên từ mặt nước do NSƯT Chu Lượng dàn dựng.

Thử thách của người làm sáng tạo về đề tài văn hóa Việt

Hai rào cản song song thường gặp khi người sáng tạo tiếp cận đề tài văn hóa Việt là khoảng trống tư liệu hình ảnh và áp lực phải đúng truyền thống (thuần Việt). Khi tư liệu trực quan khan hiếm, tiêu chí đúng dễ thiếu cơ sở đối chiếu, dẫn đến tranh luận kéo dài về ranh giới giữa tạo hình, chất liệu, bối cảnh và tinh thần của loại hình văn hóa.

Lấy ví dụ như trường hợp của nghệ thuật Múa Rối Nước. Năm 2017, khi tác giả Lương Linh bắt đầu tìm hiểu rối nước để sáng tác, trở ngại chính là thiếu tư liệu hình ảnh để minh họa. Nhiều đầu sách và công trình nghiên cứu hiện có, trong đó có sách của Tô Sanh, GS Trần Văn Khê và Nguyễn Huy Hồng, cung cấp thông tin chữ nghĩa tương đối dày nhưng hạn chế về hình ảnh, đặc biệt thiếu chi tiết tạo hình từng mẫu rối. Hệ quả là người sáng tác khó có cơ sở dữ liệu thị giác đáng tin cậy để tái tạo và phát triển ngôn ngữ tạo hình.

Để bù đắp khoảng thiếu, Lương Linh dành bốn năm hệ thống hóa và minh họa lại các mẫu rối, bao gồm cả những mẫu truyền thống và những mẫu hiện đại. Quá trình này kéo dài do nhu cầu kiểm chứng. Khi minh họa mẫu rối gắn với một nghệ sĩ hoặc một sân khấu nhất định, tác giả chủ động đối chiếu với người tác giả tạo hình để thẩm định chi tiết.

Sau khi cuốn sách về rối nước được xuất bản, tác giả cho biết dự án không chỉ phục vụ sở thích nghiên cứu văn hóa mà còn đáp ứng nhu cầu tư liệu trực quan của cộng đồng sáng tạo. Từ ví dụ này, có thể thấy đây là hướng tiếp cận hiệu quả cho các đề tài văn hóa Việt: phát triển các dự án tổng hợp và hệ thống hóa tri thức, đồng thời chuyển hóa thành tư liệu trực quan có kiểm chứng. Khi nền tảng tham chiếu dày hơn, thảo luận về đúng truyền thống cũng có điều kiện dựa vào bằng chứng cụ thể.

Bài và ảnh: Linh Lương 


Xem thêm: 

Hoa đăng: Vũ điệu của ánh sáng trên mặt nước

Trống đồng Đông Sơn: Âm vang văn minh lúa nước

Trống đồng Đông Sơn (phần II): Di sản hoa văn