Cải Lương: Nối nhịp xưa vào làn điệu mới

Ra đời từ sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, Cải Lương đã đồng hành cùng vùng đất Nam Bộ hơn một thế kỷ, trở thành một phần không thể tách rời của đời sống văn hóa nơi đây.

Nam Bộ từ lâu được biết đến là vùng đất có nền tảng văn hóa nghệ thuật phong phú, trong đó nghệ thuật trình diễn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của cư dân qua nhiều thế hệ. Hát Bội là loại hình sân khấu truyền thống sử dụng lời ca, tiếng trống và nhịp điệu để tái hiện những tuồng tích đề cao lòng trung hiếu, lễ nghĩa. Sau đó, Cải Lương xuất hiện như một hình thức canh tân, kế thừa giai điệu và hình tượng của sân khấu truyền thống, đồng thời mở rộng bối cảnh và tuồng tích theo tinh thần “ôn cố tri tân”, góp phần làm phong phú thêm diện mạo nghệ thuật trình diễn của vùng đất này.

Tại Nam Bộ, Hát Bội được xem là loại hình sân khấu mang tính trang trọng với nghi lễ Đại Bội. Những lớp tuồng cổ điển khai thác tích truyện xưa, đề cao quan niệm “tam cang ngũ thường”. Ngôn ngữ trong các câu hát có chiều sâu và tính ước lệ cao, do đó có phần kén khán giả, đặc biệt với những người chưa am hiểu lễ nhạc, tích truyện xưa hay chữ Nho.

nghe thuat trinh dien nam bo

Đời sống văn hóa nghệ thuật trong một lễ Cúng đình.

Trái lại, Cải Lương dung hòa yếu tố truyền thống và đương đại. Sân khấu trình diễn dần thoát khỏi tính ước lệ nặng nề, tiếp cận khán giả bằng ngôn từ gần gũi hơn. Kịch bản không còn giới hạn trong các tích truyện Nho học mà mở rộng sang những tấn tuồng tâm lý xã hội, được xây dựng theo kết cấu mới. Nhờ đó, Cải Lương nhanh chóng đáp ứng nhiều tầng thưởng thức, từ đơn giản đến phức tạp, từ cổ điển đến hiện đại, và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng yêu nghệ thuật truyền thống ngay từ những năm đầu hình thành.

nghe thuat trinh dien cai luong nam bo

Vở tuồng Cải Lương xưa xuất bản năm 1926 với nhan đề Xử Án Bàng Quí Phi dựa theo tích truyện Trung Quốc để phát triển nội dung.

nghe thuat trinh dien cai luong nam bo

Bìa dĩa Cải Lương nhan đề Đoạn Tuyệt. Ảnh: Tư liệu

Cải Lương (改良) theo nghĩa Hán Việt là “làm lại cho tốt hơn”, cũng chính là tinh thần khởi thủy của loại hình nghệ thuật này khi đứng giữa ranh giới truyền thống và hiện đại. Đây là loại kịch hát kết hợp giữa các tuồng tích cải biên từ Hát Bội xưa như Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính, và các vở tâm lý xã hội phản ánh những vấn đề đương thời như Đoạn Tuyệt, hay những câu chuyện tình cảm đôi lứa như Lan và Điệp, Nửa Đời Hương Phấn. Có thể nói, sự hình thành của Cải Lương là sự tiếp nối mạch nguồn nghệ thuật truyền thống tại Nam Bộ.

cai luong nua doi huong phan nghe thuat san khau

Cố nghệ sĩ Út Bạch Lan và Thanh Nga trong vở diễn Nửa đời hương phấn. Ảnh: Tư liệu

Năm 1918, tại Mỹ Tho, gánh hát Thầy Năm Tú ra mắt vở Kim Vân Kiều của soạn giả Trương Duy Toản tại rạp Cinéma Théâtre. Sự kiện này được nhiều nhà nghiên cứu xem là cột mốc khai sinh của nghệ thuật Cải Lương. Trong các thập niên 1920 đến 1940, hàng loạt gánh hát lớn lần lượt ra đời, tiêu biểu như gánh Trần Đắc, gánh Phước Cương, đưa loại hình này phát triển mạnh mẽ trong những thập niên tiếp theo. Nhiều tuồng tích, câu ca và tên tuổi nghệ sĩ đã trở thành ký ức chung của công chúng yêu nghệ thuật, từ NSND Lệ Thủy đến NSƯT Vũ Linh, cùng với đóng góp của các soạn giả tên tuổi như Trần Hữu Trang, Năm Châu, Hà Triều – Hoa Phượng, Viễn Châu.

cai luong co dien xu an bang quy phi

Vở Xử án Bàng Quý Phi do các nghệ sĩ Năm Phỉ, Bảy Nhiêu biểu diễn tại Paris năm 1931. Ảnh trong bộ sưu tập của Clemens Radauer – một nhà sưu tập người Áo.

Kể từ thập niên 1920 đến nay, tên gọi “Cải Lương” còn được nhắc nhớ qua câu đối treo trước bảng hiệu đoàn Tân Thinh, hàm ý về tôn chỉ và bản chất của loại hình nghệ thuật này:

Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.

Câu đối phản ánh hai chuyển động song song: việc chuyển từ sân khấu ước lệ truyền thống sang hình thức kịch hát có phông màn, bối cảnh theo kiểu thức phương Tây được xem như một bước tiến bộ trong cách tổ chức diễn xướng, đồng thời, những tuồng tích truyền thống vẫn được gìn giữ và truyền tải theo tinh thần văn minh của thời đại mới. Chính sự dung hòa giữa gìn giữ cái cũ và tiếp nhận cái mới này đã khiến Cải Lương trở nên cởi mở trong sáng tạo kịch bản và thiết kế bối cảnh, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận nhiều thành phần khán giả, trong đó có công chúng theo tân học, thể hiện đúng tinh thần cốt lõi ẩn chứa trong chính tên gọi “Cải Lương”.

nghe thuat trinh dien cai luong nam bo

Sân khấu nghệ thuật truyền thống Nam Bộ trong những ngày lễ Kỳ Yên.

Có thể nói, Cải Lương là bộ môn nghệ thuật hòa quyện được những yếu tố vừa cổ điển vừa tân thời, không chỉ dừng lại ở việc canh tân cho phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội Nam Kỳ đầu thế kỷ XX, mà còn tiếp nối và làm mới các giá trị từ Hát Bội, Đờn Ca Tài Tử, để sau này hình thành thêm nhánh Cải Lương Hồ Quảng cũng mang đặc trưng dung hòa giữa yếu tố cũ và mới. Nhờ vậy, loại hình này không chỉ hình thành và phát triển mạnh mẽ tại Nam Bộ mà còn dần lan rộng ra các vùng miền khác của cả nước.

cai luong nghe thuat san khau mien nam 100 nam

Vở diển tại chương trình Biểu diễn và tôn vinh 100 năm nghệ thuật sân khấu cải lương hình thành và phát triển diễn ra năm 2019. Ảnh: Thanh Niên

Thực hiện: Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính


Xem thêm: 

Biểu đạt thẩm mỹ trong nghệ thuật sân khấu Kabuki

Ký ức nhà cổ Nam Bộ: Nhà họ Trần, Long An

Nét đẹp chùa cổ Nam Bộ: Kiến trúc chùa Phước Lâm – Long An