Nếu có một biểu tượng hội tụ niềm tin tín ngưỡng, giá trị thẩm mỹ và chiều sâu đời sống tinh thần của người Việt, cây nêu là một trong những hình ảnh tiêu biểu. Trong tâm thức người Kinh, cây nêu gắn với chức năng bảo vệ không gian cư trú trong những ngày Tết. Khi đi sâu vào các cộng đồng như người Co, Ba Na hay Chơ-ro, có thể thấy cây nêu không chỉ mang ý nghĩa trấn giữ, mà còn giữ vai trò kết nối con người với thế giới thần linh, trở thành trung tâm của đời sống nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng.
“Dựng cây nêu, mở cửa trời,
Cho phúc cho lộc xuống nơi trần gian.”
(Ca dao dân gian – truyền miệng)
Miền Bắc: Lời khẩn cầu cho sự bình an
Theo quan niệm dân gian, những ngày cuối năm được xem là thời điểm trật tự vũ trụ bước vào giai đoạn chuyển dịch, khi thần linh tạm rời xa cõi người. Cây nêu vì thế được dựng lên nhằm xác lập quyền chủ và bảo toàn sự an ổn cho không gian cư trú, ngăn những điều bất tường xâm nhập vào đời sống con người.

Ảnh: Tư liệu
Để hiện thực hóa vai trò hộ mệnh ấy, người xưa chọn những thân tre đực già dặn, dẻo dai mà vững chắc, làm trục chính cho cây nêu. Trên đỉnh cao, một hệ biểu tượng được thiết lập qua sự kết hợp của cờ hội, khánh đất nung, giỏ tre, lá sen, tạo nên một ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt với vũ trụ. Tiếng khánh khẽ vang trong gió xuân vừa gợi không khí Tết, vừa như lời xác tín: mảnh đất này đã có chủ, trật tự đã an vị. Những lớp lá gai và vòng vôi bột dưới gốc tiếp tục hoàn chỉnh lớp phòng hộ, vừa mang ý nghĩa thanh tẩy, vừa xác lập ranh giới giữa không gian của con người và phần ngoại giới. Khi cây nêu được hạ xuống sau Tết, người ta tin rằng bình an đã được “neo” lại trong nhà.

Ảnh: Tư liệu
Dân tộc Co: Mỹ cảm của núi rừng
Rời xa lũy tre làng, ta bắt gặp một hình thái cây nêu đặc sắc tại vùng núi Quảng Ngãi, trong không gian văn hóa của người Co (Cor). Ở đây, cây nêu không chỉ là một thân tre dựng thẳng, mà là một tổ hợp nghi lễ và mỹ thuật phức hợp, với trục chính thường làm từ gỗ lớn, kết hợp tre nứa và nhiều vật liệu tự nhiên khác. Toàn bộ thân nêu được trang trí công phu bằng các mảng hoa văn và màu sắc truyền thống đỏ, đen, trắng, phản ánh thế giới quan và đời sống tinh thần của cộng đồng. Nổi bật trên cây nêu là các bộ Gu, những tác phẩm gỗ điêu khắc mang ý nghĩa tâm linh đặc trưng của người Co, cùng hình tượng chim chèo bẻo bằng gỗ, loài chim được xem là chim trời, gắn với niềm tin bảo vệ mùa màng và sự sinh sôi. Trong không gian lễ hội, cây nêu giữ vai trò như cấu trúc nghi lễ trung tâm, nơi con người gửi gắm lời nguyện cầu và mời gọi thần linh, tổ tiên về chứng giám cho đời sống cộng đồng.

Ảnh: Tư liệu

Cây nêu được chạm khắc, vẽ hoa văn tỉ mĩ qua nhiều công đoạn. Ảnh: Tư liệu

Tạo hình chim chèo bẻo bằng gỗ. Ảnh: Tư liệu
Tây Nguyên: Thang dẫn đường cho thần Yàng
Nếu cây nêu của người Co chú trọng vào cấu trúc tạo hình và hệ biểu tượng tinh xảo, thì cây nêu (gơng) của người Ba Na và Gia Rai lại thể hiện tinh thần hùng tráng của không gian lễ hội Tây Nguyên. Được dựng cao giữa sân nhà rông, cây nêu thường làm từ thân gỗ thẳng, trên đỉnh gắn các vòng gỗ, tua chạm và vật treo chuyển động theo gió, gợi nhịp vận hành của trời đất và mùa màng.

Ảnh: Tư liệu
Trong các nghi lễ lớn như mừng lúa mới, bỏ mả (Pơthi) hay lễ hiến sinh, cây nêu là trung tâm thiêng của không gian cộng đồng. Đây là nơi thần Yàng được mời về chứng giám, nơi con người dâng lễ vật và tái khẳng định mối quan hệ giữa người sống, tổ tiên và thế giới siêu nhiên. Cây nêu không mang chức năng trấn áp tà lực, mà đóng vai trò kết nối và quy tụ, để cộng đồng cùng ăn uống, nhảy múa, cồng chiêng vang lên như một cách kể lại vòng đời của con người Tây Nguyên.
“Cây nêu là cây của trời, nhưng rễ nó cắm sâu trong lòng người.”
(Lời truyền miệng của một nghệ nhân Tây Nguyên)

Ảnh: Tư liệu

Ảnh: Tư liệu
Người Chơ – ro và lời tự tình với Mẹ Lúa
Thấp hơn, mộc mạc hơn nhưng không kém phần lay động là cây nêu trong lễ hội Sayangva của người Chơ-ro miền Đông Nam Bộ. Không phô trương về hình dáng, cây nêu nơi đây treo những bông lúa chín, những củ sắn, củ mài – các sản vật được chắt lọc từ lao động cần mẫn trên nương rẫy, mang theo dấu ấn của mồ hôi và mùa vụ.
Cây nêu Chơ-ro không vươn mình thách thức bầu trời, mà nghiêng thấp, gần gũi với đất đai. Nó hiện diện như một bàn thờ lộ thiên, nơi con người dâng rượu cần và lời tri ân lên thần lúa, gửi gắm lòng biết ơn sâu lắng đến Mẹ Đất đã nuôi dưỡng họ qua từng mùa. Cây nêu Chơ-ro, vì thế, trở thành biểu tượng của sự giao hòa trọn vẹn giữa con người và ruộng rẫy, giữa lao động và tín ngưỡng. Một vẻ đẹp khiêm nhường nhưng sâu sắc, đúng như tinh thần của vùng đất phương Nam.

Ảnh: Tư liệu
Dòng chảy lịch sử của cây nêu
Qua thời gian, cây nêu chuyển mình từ nghi lễ cung đình triều Nguyễn đến hình thức dân gian giản dị, phản chiếu sự biến đổi của đời sống tinh thần người Việt. Những tư liệu đen trắng lưu giữ không chỉ hình ảnh, mà còn ký ức tập thể về một biểu tượng văn hóa luôn vận động trong dòng chảy lịch sử.

Ảnh: Tư liệu

Ảnh: Tư liệu
Dù là tre già Bắc Bộ, gỗ quý Trà Bồng hay nứa rừng Đồng Nai, cây nêu vẫn luôn mang trong mình một sứ mệnh duy nhất: Gắn kết. Nó gắn kết con người với thần linh, quá khứ với hiện tại, và cá nhân với cộng đồng.
Thực hiện: Lê Vi
Xem thêm:
Thư pháp: Từ con chữ đến giá trị tinh thần