Người Việt tự ngàn đời lớn lên với mùi lúa chín vàng thơm đòng, mâm cơm trắng ngọt đậm vị cá tôm. Khó mà tưởng được cảnh vắng bóng của sông, bởi đơn giản là chúng ta đã nhìn thấy sông nước mênh mang cả một đời quen: sông Hồng nghênh ngang khi lũ về, chín nhánh Cửu Long phù sa đong mùa nước nổi và hơn ngàn con sông nhỏ đan dệt trong lãnh thổ. Dòng chảy ấy đi vào tiếng nói thường ngày, quen thuận trơn mượt ngay cả trên môi để người Việt gọi quê hương là đất nước, gọi xứ sở là nước Việt.
Cái gì sống chung cũng thành quen, thành thương, đượm hơi nhau, từ từ mà biết sống chung, như cái chén cái bát trong chạn dẫu có lúc còn khua lách cách mà vẫn ở cạnh nhau cả một đời. Người Việt thương sông, nhớ dòng, sống bên sông riết rồi học cách hiểu từng con nước. Thấy nước lên thì biết mùa lũ về, thấy phù sa đỏ quạch thì biết vụ mùa sắp tới, thấy mặt sông lặng như gương thì lòng người cũng dịu lại. Dòng sông không còn là một phần của cảnh vật mà len vào nếp nghĩ, nếp ở, dạy con người cách sống mềm đi trước thiên nhiên thay vì cố uốn thiên nhiên theo ý mình.
Sông và nghệ thuật được “mềm hóa” với thiên nhiên
Theo Paul Vidal de La Blache trong thuyết Khả năng Môi trường (Environmental Possibilism), thiên nhiên không quyết định số phận con người, cũng không ép buộc họ phải sống theo một khuôn mẫu duy nhất; nó chỉ đặt ra những giới hạn và những khả năng để con người lựa chọn cách tồn tại. Trên dải đất Việt Nam, sự lựa chọn ấy chưa bao giờ là chinh phục. Bởi không như các dòng sông trời Tây ổn định, trong xanh không đổi, để con người tự tin và ngạo nghễ mà thuần hóa, sông Việt mang tính khí của miền nhiệt đới, đỏng đảnh và đôi phần khó chiều. Lúc hiền hòa như dải mây trắng trôi lững lờ qua đồng ruộng ngày hè, lúc dữ dội tựa thanh gươm bén ngót, chặt phăng cả lũy tre xanh đầu làng. Mùa nắng cạn mình, mùa mưa đỏ nặng phù sa, nước dâng, nước rút cực đoan mỗi mùa. Nỗi niềm khóc cười của người xứ Việt cũng theo con nước mà thành hình, bởi biến đổi mà không thể trị vì, chỉ có thể chọn nương náu và cộng sinh. Vừa nuôi sống, vừa thử thách; vừa ban tặng, vừa nhắc con người về sự hữu hạn của mình. Bởi vậy, trong tâm thức người Việt, nước không chỉ là tài nguyên mà là mạch sống, là ký ức và cũng là căn tính.

Sông Hồng mùa lũ năm 1929. Ảnh: Tư liệu
Có lẽ cũng từ sự lựa chọn ấy mà nghệ thuật Việt Nam đi theo một con đường rất khác. Người Việt không đứng trên bờ để ngắm dòng sông và thực hành nghệ thuật mà bước xuống lòng sông, nâng từng nắm phù sa lên bàn xoay, mang nước vào tấm vóc sơn mài, để hai yếu tố nguyên sơ nhất của thiên nhiên – đất và nước – tiếp tục một hành trình khác trong hình hài của nghệ thuật.
Đất bồi châu thổ và xương thịt của Gốm cổ
Nếu thuyết Khả năng Môi trường (Environmental Possibilism) cung cấp những giới hạn để buộc con người phải lựa chọn cách ứng xử phù hợp thì Julian Steward với thuyết Sinh thái học Văn hóa (Cultural Ecology) lại đem đến những khả năng mở từ thiên nhiên, hình thành nên các cấp độ phát triển của văn minh từ sơ cấp đến cấu trúc thượng tầng, nhìn sâu hơn vào quá trình những lựa chọn ấy dần kết tinh thành văn hóa. Ở cấu trúc sơ cấp, lõi văn hóa được hình thành trong quá trình thuận tiện, con người va chạm, tiện tay nhặt nhanh từ đất bùn cây cỏ xung quanh để tạo tác và sinh tồn. Những khác biệt nhỏ nhất của mẹ thiên nhiên cũng là hạt mầm nuôi nấng lên những cá thể người, văn minh khác biệt.
Lịch sử người Việt cũng mở đầu bằng một cuộc dịch chuyển như thế. Cuộc di cư từ vùng trung du và thượng ngàn, giã từ cuộc sống du mục khắp núi đồi để tìm về vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng phẳng lặng. Ở đó, họ an định cất nhà, khẽ mở mắt khi gà gáy tờ mờ sớm tỏ, vã mồ hôi trên đồng lúa nước, mơ vụ mùa thơm ngát cánh cò bay, đói có mâm cơm ngon, ngủ có manh chiếu mát. Phục vụ cho nếp sống giản đơn không cầu kỳ, là những đồ vật tiện dụng để chứa nước, nấu ăn, cất giữ hạt giống và bảo quản mùa màng, cần gì tạo tác nấy, gói gọn trong từ vừa đủ. Gốm ra đời từ chính những nhu cầu bình dị ấy, trước khi hóa thân thành nghệ thuật.

Những dụng cụ làm gốm Chu Đậu cổ được khai quật tại thôn Chu Đậu, nay được trưng bày tại bảo tàng Hải Dương. Ảnh: Thái Lộc
Cái chum hứng nước mưa, cái vò đựng gạo, chiếc nồi đất đặt trên bếp rơm… tất cả đều được sinh ra từ lớp đất nằm dưới lòng sông. Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình qua hàng nghìn năm đã tích tụ những lớp đất sét giàu silic và khoáng sắt, trở thành món quà thiên nhiên dành cho cư dân châu thổ. Từ những bãi bồi ấy, các trung tâm gốm như Chu Đậu, Bát Tràng dần hình thành, trước hết để phục vụ đời sống thường nhật, rồi mới phát triển thành những thương hiệu gốm vang danh theo các tuyến giao thương trên biển.

Bát trà chân cao gốm Chu Đậu thế kỷ thứ 6 được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuạt Tokugawa và Bảo tàng Quốc gia Tokyo. Ảnh: Tư liệu
Sự phụ thuộc vào môi trường tự nhiên này đã được GS. Trần Quốc Vượng tổng kết trong “Văn hóa Đông Sơn – Văn minh sông Hồng”. Ông khẳng định: “Nền văn minh Việt cổ đại về thực chất là một nền văn minh châu thổ, gắn chặt với hệ sinh thái bồi đắp của các dòng sông.” Văn hóa vật chất của người Việt mang đặc tính “lưỡng hợp Đất – Nước”, không sinh ra từ khát vọng vĩ cuồng của vương quyền mà từ bùn lầy nông nghiệp.

Cặp chân đèn gốm Bát Trang vẽ hoa nâu dưới men từ thế kỷ 14
Bởi được sinh thành từ phù sa lòng sông, gốm Việt cũng mang một mỹ cảm rất riêng. Nếu gốm ngự dụng Cảnh Đức Trấn theo đuổi sự hoàn mỹ tuyệt đối với chuẩn mực “mỏng như giấy, sáng như gương, vang như khánh”, thì gốm Chu Đậu hay Bát Tràng lại chấp nhận để thiên nhiên cùng tham gia vào quá trình sáng tạo. Men ngọc, men lam không cố đạt đến sự rực rỡ chói lóa mà giữ lại sắc độ bảng lảng như khói sóng; những vết rạn li ti, những biến thiên của lửa nung hay lớp men hơi đục đều không bị xem là khiếm khuyết, mà trở thành dấu vết của thời gian và của chính dòng sông đã sinh ra chất đất ấy.

Gốm Bát Tràng mô hình nhà với màu men trắng ngà, xanh rêu và nâu, từ thế kỷ 17
Gốm Việt vì thế không chỉ là đất được nung thành đồ vật. Nó là phù sa được giữ lại trong một hình hài bền vững hơn thời gian; là ký ức của những dòng sông chảy qua hàng nghìn năm lịch sử, tiếp tục hiện diện trong từng chiếc chum, chiếc vò, từng lớp men bàng bạc như còn vương hơi nước của buổi sớm trên bãi bồi châu thổ.
Mượn sông mà ánh lên sắc sơn mài
Nếu gốm dùng đất làm xương thịt, thì sơn mài mượn nước mà ánh sắc. Họa sĩ phương Tây đắp màu trên bề mặt, lấy nước, lấy dầu, hay lòng trắng trứng làm dung môi. Nếu tranh của họ sợ ẩm, sợ nước vì sẽ làm hỏng, thì sơn mài mỹ nghệ châu Á lại ưa nước, mến sông. Tranh chìm hẳn trong nước để mài, nước của sông kéo tách các tầng màu son then, trắng khiết vỏ trứng, ánh kim vàng bạc, từ trong chồng lớp với vóc theo dòng nhờ kỹ thuật mài nước mà hiện, mà đung đưa ánh sắc. Lớp màu lung linh nhưng âm trầm và sâu kín như trong “Mỹ thuật của người Việt”, nhà nghiên cứu Nguyễn Quân nhận định: “Cái đẹp của người Việt không chuộng sự rực rỡ, chói lóa hay phô trương hình thể vĩ đại, mà thiên về sự thâm trầm, nhỏ nhắn, lẩn khuất.” Cư dân châu thổ không đẩy cảm xúc phô bày lên bề mặt mà lặn sâu vào bên trong, giống hệt như các mảng màu sơn mài lặn vào bóng tối trước khi được dòng nước gọi về.
Bức tranh sơn mài Tát nước đồng chiêm (1958) của Trần Văn Cẩn khắc họa nông dân đang tát nước cứu lúa. Điều kỳ diệu là sự lay động của dòng nước được diễn tả bằng chính kỹ thuật mài nước. Độ sâu thẳm và bóng lộng của màu then (đen), màu son (đỏ) phản ánh chính xác cái nhìn của người Việt về dòng sông ngậm phù sa: không nhìn thấu đáy, mà giấu kín những trầm tích thời gian dưới lòng thâm trầm.

Tác phẩm Tát nước đồng chiêm (1958) của Trần Văn Cẩn
Việc đất và nước trở thành cốt tủy của nghệ thuật Việt không đơn thuần là câu chuyện của chất liệu hay kỹ thuật. Những gì con người chạm vào mỗi ngày rồi cũng lặng lẽ đi vào cách họ cảm nhận thế giới. Đất dạy con người sự bền bỉ. Nước dạy con người sự uyển chuyển. Hai yếu tố ấy gặp nhau ở sông để hình thành nên một mỹ cảm thiên về chiều sâu hơn là sự phô bày, thiên về sự gợi mở hơn là khẳng định tuyệt đối.
Phù sa sông không chỉ bồi đắp nên những cánh đồng. Nó còn bồi đắp cả mỹ cảm. Đất dưới lòng sông đi lên thành thân gốm, nước thành dung môi của sơn mài, rồi từ vật chất hóa thành tinh thần. Thẩm mỹ Việt vì thế chưa bao giờ đứng ngoài thiên nhiên. Nó mang màu của bùn non, độ sâu của nước đục và nhịp chảy lặng lẽ của những dòng sông đã nuôi lớn cả một nền văn minh.
Nhưng sông Việt vẫn muôn đời đỏng đảnh, đâu chịu mãi một cá tính cực đoan. Chúng là tập hợp của nhiều cá tính đối lập trong một dạng thể. Khi không thể thuần sông ở một nhất quán cá tính, con người Việt phải uốn mình theo dòng, thích nghi để tồn tại. Từ thích nghi ở mức độ sơ cấp, thuận tiện với đời sống, cấp độ tiếp theo mà người Việt phải “nương theo” sông là gì? Trong cùng một dòng chảy luôn tồn tại những đối cực: nuôi dưỡng và hủy diệt, dịu dàng và khắc nghiệt, ổn định và biến động. Chính những đối nghịch ấy khiến con người không thể đối xử với dòng sông bằng một cách duy nhất.
Khi không thể thuần sông ở một nhất quán cá tính, người Việt phải uốn mình theo dòng, thích nghi để tồn tại. Sự thích nghi ban đầu chỉ để sinh tồn: dựng nhà theo con nước, gieo cấy theo mùa lũ, lấy phù sa làm đất, lấy nước làm nguồn sống. Nhưng có những sự thích nghi không dừng lại ở miếng cơm hay mái nhà. Chúng lặng lẽ đi sâu hơn, chảy vào cách con người nghĩ, cách họ sống và cả cách họ kiến tạo nên thế giới của mình. Có lẽ, chính ở đó, dòng sông bắt đầu viết nên một chương khác của căn tính Việt.
(Còn tiếp)
Sự sống của mọi nền văn minh đều khởi thủy từ sông. Con người là “hoa đất”, nhờ nước tưới tắm mà nảy nở và sinh sôi. Không chỉ làm trôi chảy nhịp sống của con người từ ngàn đời, sông còn âm thầm định hình đường chảy của tâm trí, của cá tính. Men theo sông mà sống, nhờ dòng mà căn tính dân tộc thành hình hài. Nghệ thuật là sự kết tinh từ mạch phát triển liền lạc của nhân loại thích nghi thiên nhiên và bung nở thành những hình thái biểu đạt rực rỡ nhất. Chuỗi bài viết “Sông và căn tính Việt qua nghệ thuật” lần theo những dấu vết ấy, từ địa lý đến văn hóa, từ sinh tồn đến thẩm mỹ, để khám phá cách những dòng sông Việt đã bồi đắp nên không chỉ một nền văn minh, mà còn cả bản sắc và mỹ cảm của người Việt qua các hình thái nghệ thuật.
Thực hiện: Saya Nguyễn
Xem thêm
Found Object: Khi phép màu vẫn lấp lánh trong kho báu tuổi thơ