Trong chữ Nôm, chữ “chè” (茶) mang nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa chỉ món ăn ngọt nấu từ đường cùng ngũ cốc, khoai, đậu. Nguồn gốc chính xác của món ăn này đến nay vẫn chưa được xác định, chỉ biết chè gắn bó lâu đời với sản vật đồng ruộng, khi là lễ vật dâng cúng tổ tiên, khi là món ăn chơi lót dạ, khi lại là thức quà làm ấm câu chuyện trong những buổi sum vầy. Từ xưa đến nay, chè vẫn là món ăn quen thuộc và được yêu thích khắp các vùng miền Việt Nam.
Những gánh chè Nam bộ ở Sài Gòn
Ở Sài Gòn, quán chè nhiều vô kể, từ bình dân đến sang trọng. Nhưng có lẽ điều người ta nhớ nhất vẫn là hình ảnh xe đẩy, gánh chè của các bà, các dì trong tà áo bà ba hay bộ đồ giản dị, đầu đội nón lá. Ngày trước, khi chưa có xe đẩy, người ta gánh nồi chè trên vai, len lỏi khắp hẻm hóc, mang theo vị ngọt thân thuộc cùng tiếng rao vang khắp phố phường. Trong cuốn Nhớ Sài Gòn, nhà giáo Minh Hương từng ghi lại tiếng rao chè quen thuộc một thời: “Hò… hò… ai ăn chè đậu xanh, bột báng, nấm mèo, bột khoai, đường cát, nước dừa… không?” Còn trong bài vọng cổ Gánh Chè Khuya, hai danh ca cải lương Út Trà Ôn và Út Bạch Lan cũng từng ngân nga: “Ai ăn chè bột khoai bún tàu đậu xanh nước dừa đường cát hôn….”

Ảnh: Asia Legend Travel
Chè Nam Bộ ở Sài Gòn phong phú về chủng loại, từ nhóm chè đậu (đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh), nhóm chè trái cây (chè bưởi, chè chuối, chè nhãn), nhóm chè nếp, chè khoai, đến nhóm chè thập cẩm (chè ba màu, chè bánh lọt, sương sa hạt lựu, chè bà ba)… Dù đa dạng, chè Nam Bộ nhìn chung đều dựa trên sản vật ruộng đồng như nếp, khoai, đậu, đường, điểm xuyết bằng hương lá dứa và vị béo mặn ngọt của nước cốt dừa. Người miền Nam còn ưa lối ăn thập cẩm, trộn nhiều nguyên liệu vào một chén, vừa gọn gàng vừa đỡ phải phân vân lựa chọn.

Chè đậu đen nước cốt dừa. Ảnh: Linh
Chè bà ba hội tụ sản vật miền Tây
Khi nhắc đến chè thập cẩm miền Tây, không thể không nhắc đến chè bà ba. Hiếm có món chè nào quy tụ nhiều nguyên liệu đến vậy, bao gồm đậu phộng, đậu xanh, các loại khoai, nấm mèo, phổ tai, bột báng. Nồi chè thơm hương lá dứa, ngậy béo vị nước cốt dừa, ngọt thanh từ đường phèn hoặc đường mía. Không chỉ là món ăn chơi trong những ngày nông nhàn, chè bà ba còn xuất hiện trong mâm cúng lễ Tết và ngày rằm ở miền Tây Nam Bộ.

Ảnh: Tư liệu
Về tên gọi, có hai cách lý giải được lưu truyền. Một là “bà ba” gắn với hình ảnh miền Tây sông nước, nơi người phụ nữ gắn bó với chiếc áo bà ba quen thuộc. Hai là cách gọi tôn kính dành cho người phụ nữ lớn tuổi được cho là đã sáng tạo ra món chè này. Cách lý giải này vẫn được lưu truyền trong dân gian đến nay. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng chè bà ba có nguồn gốc từ món Bubur Cha Cha của cộng đồng Baba Nyonya (người gốc Hoa lai Mã Lai), theo đó “bà ba” là cách đọc trại từ “Baba Nyonya”.
Chè bà ba ngon nhất khi thưởng thức lúc còn nóng, cả nhà cùng ăn chung. Trong chén chè hội tụ đủ hương vị, mùi thơm dịu của lá dứa, vị ngọt bùi của khoai lang, độ dẻo của khoai mì hòa cùng độ giòn sần sật của nấm mèo, thêm vị béo ngậy của nước cốt dừa và độ ngọt thanh vừa phải từ đường mía. Không chỉ là món ăn chơi dân dã, chè bà ba còn là lễ vật giản dị trong mâm cúng tổ tiên, đất trời của người miền Tây.
Viên mãn như chè trôi nước
Một món chè không chỉ ngon mà còn mang theo lời nguyện cầu mọi điều suôn sẻ, đó là chè trôi nước. Viên chè tròn trịa, vỏ mỏng nhân đầy, trôi trong nước đường vàng óng, điểm chút cay nhẹ của gừng và hương thơm của mè rang.
Vào dịp Tết Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng), người miền Nam dâng mâm chè trôi nước lên đất trời, gửi gắm mong ước năm mới mọi việc hanh thông, suôn sẻ. Trong lễ cúng ông Táo, chè trôi nước được xem như món quà ngọt ngào để ông Táo tâu những lời tốt đẹp lên Ngọc Hoàng. Còn trong lễ cúng thôi nôi, viên chè tròn tượng trưng cho ước mong đứa trẻ sẽ có cuộc sống tròn đầy, viên mãn về sau.

Chè trôi nước ngũ sắc sử dụng nước màu từ các nguyên liệu tự nhiên như lá dứa, trái gấc, bột nghệ… Ảnh: Tư liệu
Với cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ, chè trôi nước cũng là món không thể thiếu trong bữa cơm đoàn viên dịp lễ Đông Chí. Viên chè tròn trịa tượng trưng cho sự gắn kết của tình thân và niềm vui đón tuổi mới, gắn liền với phong tục “ăn một viên chè, lớn thêm một tuổi.”
Mát lành như sương sa hạt lựu
Người Sài Gòn ăn chè quanh năm, không phân biệt mùa, nhưng vào mùa hè, các món chè đá bào thường được ưa chuộng hơn cả. Tiêu biểu là chè sương sa hạt lựu. Tên gọi của món chè xuất phát từ chính nguyên liệu: sương sa là những khối thạch trắng đục, vuông vắn, nấu từ rau câu; hạt lựu có hình dáng giống hạt của quả lựu, màu hồng đỏ với phần lõi trắng bên trong, được làm từ bột năng nhuộm màu thực phẩm rồi đem luộc chín.
Chè sương sa hạt lựu thường được ăn kèm bánh lọt, đậu xanh hấp đánh nhuyễn, nước cốt dừa, nước đường và một lớp đá bào hoặc đá đập nhuyễn phủ lên trên. Mỗi muỗng chè mang đến sự kết hợp hài hòa của nhiều tầng hương vị: độ giòn mát của sương sa, độ dai của hạt lựu thấm vị béo ngọt, hòa cùng vị mát rượi của nước cốt dừa, nước đường và đá bào.

Ngoài sương sa hạt lựu, chè cocktail trái cây, ba màu đều ăn chung với đá bào. Ảnh: TasteAtlas
Bên cạnh những món chè quen thuộc kể trên, ẩm thực Nam Bộ còn sở hữu một thế giới chè phong phú với nhiều hương vị và sắc thái khác nhau. Từ chè chuối chưng dẻo thơm, chè khoai môn bùi béo, đến chè Thái rực rỡ sắc màu hay chè đậu xanh phổ tai thanh mát, mỗi món đều phản ánh sự trù phú của sản vật địa phương cùng nét sáng tạo trong văn hóa ẩm thực miền Nam.
Không đơn thuần là một món tráng miệng, chè còn lưu giữ những ký ức đời thường, gắn với hình ảnh những gánh hàng rong, quán nhỏ đầu ngõ và những buổi chiều thong thả của nhiều thế hệ. Sự đa dạng trong nguyên liệu, hương vị và cách thưởng thức đã tạo nên bản sắc riêng cho chè Nam Bộ, giúp món ăn này vẫn giữ được sức hấp dẫn bền bỉ giữa nhịp sống hiện đại và những đổi thay trong khẩu vị.
Thực hiện: Thu Hà
Xem thêm:
Ẩm thực miền Tây: Mỹ vị từ những sắc hoa dân dã