Hình ảnh tấm rèm ống trúc vốn không hề xa lạ với thế hệ 7X, 8X hay 9X. Ngày trước, trong những nếp nhà, chiếc rèm trúc hầu như luôn xuất hiện ở cửa buồng hoặc lối ra vào. Mỗi khi có cơn gió lùa qua hay có người gạt mành bước vào, tiếng lách cách vui tai lại vang lên, trở thành một phần âm thanh quen thuộc của gia đình.
Vẻ đẹp bền bỉ của rèm ống trúc suốt hơn nửa thế kỷ qua nằm ở kỹ nghệ chế tác thủ công khó thay thế. Đằng sau những lóng trúc thô mộc được cắt đều tăm tắp và các nét cọ vẽ tay tỉ mỉ là cả một di sản văn hóa sống động của làng nghề trăm tuổi, vốn đang tìm cách tự định hình lại mình trong không gian sống hiện đại.

Ảnh: Nhóm Nghề Đất Việt – Nghề cổ nhịp số
1. Nguồn gốc của rèm ống trúc
Nhìn chung, lịch sử của rèm ống trúc liên đới với nghề mây tre đan truyền thống của người Việt. Ban đầu, tre trúc chỉ được chẻ dẹt, đan bện thô sơ để làm mành che nắng mưa ở hiên nhà. Bước ngoặt lớn nhất diễn ra vào khoảng giữa thế kỷ 20 tại vùng đất Sài Gòn – Gia Định. Những người thợ thủ công lúc bấy giờ đã có một sáng kiến táo bạo: thay vì chẻ tre thành thanh phẳng, họ chọn những ngọn trúc tròn, cắt thành từng lóng nhỏ rồi xâu chuỗi lại bằng dây kẽm.

Làng nghề rèm ống trúc Tân Thông Hội (Củ Chi). Ảnh: Trần Hà Trang, Tạp chí Công Thương
Phát kiến này ngay lập tức thay đổi hoàn toàn diện mạo của chiếc mành truyền thống. Những ống trúc tròn nhỏ ghép lại không chỉ tạo ra độ rủ mềm mại, dễ dàng vén mở mà còn biến tấm mành thành một “bức toan” chuyển động độc đáo để vẽ tranh. Từ một vật dụng thuần che chắn, rèm ống trúc nhanh chóng bước vào phòng khách, phòng thờ và buồng ngủ của các gia đình trung lưu, trở thành biểu tượng cho sự tinh tế trong phong cách kiến trúc Á Đông thời bấy giờ.
Vào những năm 1980 – 1990, nghề làm rèm ống trúc tại Tân Thông Hội (Củ Chi, TP.HCM) bước vào thời kỳ hoàng kim rực rỡ nhất. Tiếng dao cắt trúc “tách, tách” và tiếng lách cách của những ống trúc va vào nhau vang lên từ đầu làng đến cuối ngõ.

Ảnh: Nhóm Nghề Đất Việt – Nghề cổ nhịp số
Ở thời kỳ cực thịnh này, rèm ống trúc Tân Thông Hội không chỉ phủ sóng khắp ba miền Nam – Trung – Bắc mà còn vươn ra thế giới. Những container mành trúc vẽ cảnh đồng quê Việt Nam, tranh tứ quý hay hoa sen đã vượt đại dương để xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Liên Xô (cũ), Pháp, Nhật Bản và Mỹ. Đối với kiều bào xa xứ hay người nước ngoài yêu văn hóa bản địa, tấm rèm ống trúc vẽ tay chính là một tác phẩm nghệ thuật mang đậm hơi thở của làng quê Việt Nam.

Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí Nhiếp ảnh và đời sống
2. Quy trình chế tác kỳ công giữ trọn kỹ nghệ trăm tuổi
Để có được một tấm rèm ống trúc hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua một hành trình chế tác hoàn toàn bằng tay, đòi hỏi sự kiên nhẫn và tỉ mỉ cao độ. Mọi việc bắt đầu từ khâu chọn nguyên liệu, thợ phải lặn lội tìm những cây trúc già dẻo dai, lấy phần ngọn có đường kính tròn đều. Trúc mang về được cạo sạch lớp vỏ xanh bên ngoài, sau đó dùng dụng cụ chuyên dụng để cắt thành từng lóng nhỏ và đều khoảng 6cm, trộn với cát và đưa vào lò quay để bỏ hết lớp lụa bên ngoài.
Bí quyết để chiếc rèm ống trúc có độ bền hàng chục năm nằm ở khâu xử lý nguyên liệu thô. Thay vì dùng hóa chất công nghiệp, người thợ Tân Thông Hội vẫn giữ phương pháp truyền thống là ngâm các ống trúc vào nước quả bồ hòn để chống mối mọt tự nhiên, sau đó đem phơi sấy thật khô dưới nắng giòn (nghĩa là nắng to, hanh khô) hoặc sấy ở nhiệt độ 70 đến 80°C. Khi ống trúc đã đạt độ khô và có màu vàng óng tự nhiên, người thợ mới bắt đầu xâu từng ống vào sợi kẽm cứng một cách khéo léo để định hình nên bộ khung rèm chắc chắn.

Các công đoạn làm rèm ống trúc gồm: cắt lóng, vuốt dầu bóng, quét sơn và phơi. Ảnh: Trần Hà Trang, Tạp chí Công Thương và Minh Thanh, báo Phụ Nữ

Công đoạn xâu rèm ống trúc. Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí Nhiếp ảnh và đời sống
Công đoạn cuối cùng và cũng là thử thách lớn nhất chính là “thổi hồn” cho tấm rèm bằng nét vẽ. Người nghệ nhân sẽ treo tấm rèm lên một khung đỡ cao, để các hàng ống trúc rũ xuống nhờ trọng lực tự nhiên. Ở tư thế treo đứng này, các sợi kẽm được kéo căng tối đa, giữ cho những lóng trúc khít chặt vào nhau và không bị xoay chuyển. Người thợ dùng cọ vẽ trực tiếp lên bề mặt gồ ghề của hàng ngàn ống trúc ghép lại. Vẽ mành trúc đòi hỏi kỹ thuật cao hơn vẽ trên giấy hay lụa gấp nhiều lần; người vẽ phải vừa tỉ mẩn đưa nét sơn, vừa phải liên tục lùi lại phía sau để canh chỉnh tỉ lệ, đảm bảo khi tấm mành đung đưa hay có người vén qua, bức tranh toàn cảnh về hoa sen, đôi chim hạc hay phong cảnh làng quê vẫn giữ được sự liền mạch, sống động và hài hòa.

Người thợ tỉ mỉ tô màu từng chi tiết lên tấm mành trúc cỡ lớn. Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí Nhiếp ảnh và đời sống

Ảnh: Nhóm Nghề Đất Việt – Nghề cổ nhịp số
3. Tính di sản văn hóa của rèm ống trúc
Trong tâm thức của những người con đất Việt, tre trúc luôn là biểu tượng cho cốt cách kiên cường, dẻo dai, mộc mạc nhưng thanh cao. Câu thành ngữ cổ “Trúc giữ nền, rồng mở thế” phần nào nói lên vai trò vững chãi, bảo vệ gia phong của loài cây này. Khi được chế tác thành những tấm rèm ống trúc, tinh thần ấy được truyền tải trọn vẹn vào không gian sinh hoạt hàng ngày.
Bên cạnh giá trị biểu tượng độc bản, người nghệ nhân còn thường gửi gắm vào rèm ống trúc những đề tài quen thuộc trong hội họa Á Đông như bộ tranh tứ quý Tùng – Cúc – Trúc – Mai đại diện cho bốn mùa luân chuyển, hình ảnh hoa sen thanh tao thoát tục, hay các biểu tượng chúc phúc như Phúc – Lộc – Thọ, đôi chim hạc dưới bóng tùng. Những nét vẽ uyển chuyển trên bề mặt chuyển động của ống trúc tạo nên một hiệu ứng thị giác vô cùng đặc biệt, biến lối ra vào hay vách ngăn phòng thành một không gian nghệ thuật đầy chiều sâu.

Ảnh: Nhóm Nghề Đất Việt – Nghề cổ nhịp số
Bên cạnh yếu tố mỹ thuật, rèm ống trúc còn mang ý nghĩa phong thủy sâu sắc trong nếp nhà của người Việt. Trong không gian kiến trúc, tấm rèm đóng vai trò như một bức bình phong linh hoạt giúp “trấn trạch” và điều hòa luồng khí. Rèm trúc có khả năng phân tách không gian một cách khéo léo, ngăn chặn các luồng khí xấu hay những hướng nhìn trực diện từ ngoài vào trong nhà, bảo vệ sự riêng tư và tụ tài khí cho gia chủ. Đặc biệt, chuyển động nhẹ nhàng và tiếng lách cách thanh mảnh phát ra khi có người đi qua hoặc khi gió lùa được xem là nguồn năng lượng tích cực, xua đuổi đi những cảm xúc tiêu cực và trì trệ.

Ảnh: Nhóm Nghề Đất Việt – Nghề cổ nhịp số
4. Sợi dây kết nối cộng đồng và khả năng thích ứng trước thị hiếu đương đại
Đằng sau giá trị nghệ thuật và phong thủy của tấm rèm trúc là câu chuyện nhân văn về sự gắn kết cộng đồng và lưu truyền thế hệ. Nghề làm rèm trúc có một đặc thù rất hay là không kén thợ, từ người già, phụ nữ nội trợ cho đến trẻ nhỏ đều có thể tham gia vào các công đoạn phù hợp như cắt lóng, xỏ kẽm hay lồng trục. Nhờ vậy, nghề truyền thống này đã nuôi sống biết bao thế hệ, tạo ra công ăn việc làm ổn định ngay tại gia đình cho những người vốn khó tìm sinh kế ở các nhà máy hiện đại. Nó gắn kết tình làng nghĩa xóm thông qua những buổi ngồi quây quần bên hiên nhà, vừa làm mành vừa trò chuyện, truyền dạy cho nhau từng kỹ năng nhỏ nhất.

Ảnh: Trần Hà Trang, Tạp chí Công Thương
Bất kỳ một ngành nghề thủ công truyền thống nào, muốn tồn tại qua những biến động của thời gian, đều cần có sự tự thân vận động và chuyển mình để phù hợp với thị hiếu của thời đại mới. Rèm ống trúc cũng không nằm ngoài quy luật đó, khi dòng chảy của thẩm mỹ đương đại luôn đòi hỏi những giá trị cũ phải biết cách tự làm mới mình nếu không muốn bị lãng quên. Dẫu vậy, sự thích ứng của rèm ống trúc với đời sống hiện đại không đến từ việc thay đổi cốt lõi, mà là sự làm mới tư duy từ chính những chất liệu quen thuộc. Quan sát những sản phẩm mành trúc ngày nay, người ta thấy những người thợ vẫn trung thành với bảng màu trầm mặc, tiết chế và nền nã vốn có. Điểm đột phá tạo nên sức hút đương đại nằm ở phong cách thể hiện hình vẽ. Thay cho lối tả thực rập khuôn hay việc lặp lại nguyên bản các điển tích cổ, các họa tiết giờ đây được cách điệu hóa, nét vẽ trở nên phóng khoáng, tối giản và có chiều sâu nghệ thuật hơn.

Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí Nhiếp ảnh và đời sống
Khởi nguồn từ vùng đất Sài Gòn – Gia Định, rèm ống trúc Tân Thông Hội (Củ Chi) là một di sản văn hóa sống động kết tinh từ kỹ nghệ chế tác thủ công hoàn toàn bằng tay đầy kỳ công. Không chỉ đóng vai trò phân tách không gian, mỗi tấm mành trúc vẽ tay còn mang ý nghĩa phong thủy sâu sắc giúp trấn trạch, điều hòa sinh khí và biểu trưng cho cốt cách thanh cao của người Việt. Trước làn sóng thẩm mỹ mới, sản phẩm ngày nay khéo léo thích ứng với kiến trúc đương đại bằng cách giữ nguyên bảng màu trầm mặc tự nhiên, đồng thời làm mới tư duy tạo hình qua những nét cọ cách điệu, phóng khoáng và tối giản.
Thực hiện: Thuỳ Như | Ảnh: Tổng hợp
Xem thêm:
Nghệ thuật chạm gỗ: Bản trường ca bất hủ
Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn (Kỳ II): Di sản tạo hình của người Việt cổ