Núi đá – Những lớp trầm tích triệu năm trên đất Việt

Trải qua hàng triệu năm kiến tạo và phong hóa, các dãy núi đá ở Việt Nam dần trở thành những cột mốc cảnh quan gắn liền với văn hóa bản địa, đời sống tín ngưỡng và ký ức vùng miền.

Trên địa hình Việt Nam, núi đá xuất hiện dày đặc dọc các dải karst phía Bắc, ven biển miền Trung và trải rộng qua vùng cao nguyên bazan Tây Nguyên. Phần lớn các khối núi này được kiến tạo qua hàng triệu năm vận động địa chất, khi đá vôi, granite hay sa thạch chịu tác động liên tục của phong hóa, xâm thực và biến đổi khí hậu. Theo thời gian, bề mặt đá dần được bào mòn thành những vách dựng đứng, hang động sâu thẳm, hồ nước kín hay các khối đá mang hình dạng kỳ đặc. Chính điều kiện địa chất ấy đã kiến tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên mang tính biểu tượng, đồng thời hình thành không gian cư trú, đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng bền bỉ qua nhiều thế hệ.

1. Vịnh Hạ Long tại Quảng Ninh

Các núi đá vôi trên vịnh Hạ Long là kết quả của quá trình tiến hóa địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm, tạo nên một trong những cảnh quan karst trên biển đặc sắc nhất thế giới. Qua quá trình phong hóa, hòa tan và xâm thực của nước mưa lẫn nước biển, hệ thống núi đá nơi đây dần hình thành những tháp đá độc lập với vách dựng đứng, xen kẽ các cụm núi hình chóp và những vùng trũng ngập nước đặc trưng của địa hình karst.

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Phần lớn các đảo đá ở Vịnh Hạ Long được hình thành từ đá vôi bị phong hóa, hòa tan và xâm thực dưới tác động lâu dài của nước mưa và nước biển. Quá trình đó tạo ra hai dạng địa hình karst tiêu biểu là Fengcong và Fenglin. Fengcong gồm các cụm núi đá hình chóp nằm gần nhau, xen giữa là các thung lũng hoặc trũng karst ngập nước, thường thấy ở khu vực Cát Bà hay Bái Tử Long. Fenglin là dạng tháp đá vôi độc lập, vách dựng đứng giữa mặt biển, tạo nên hình ảnh đặc trưng của vịnh Hạ Long ngày nay. Ảnh: Lã Nghĩa Hiếu

Nhiều đảo đá trên vịnh vẫn còn lưu giữ dấu tích của các hang động cổ và hồ nước kín nằm lọt giữa lòng núi đá vôi. Dọc chân các đảo đá cũng xuất hiện những rãnh biển lớn do quá trình hòa tan đá vôi diễn ra liên tục dưới tác động của thủy triều và sóng biển. Sự kết hợp giữa karst cổ và môi trường biển đã tạo nên hệ thống núi đá nổi dày đặc trên mặt nước, đặc điểm địa mạo hiếm thấy của vịnh Hạ Long.

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Hòn Gà Chọi (hay hòn Trống Mái) – cụm đá gồm hai khối đứng đối diện nhau trên mặt nước, với phần chân thu nhỏ, tạo cảm giác chênh vênh nhưng vẫn tồn tại qua hàng triệu năm sóng gió. Ảnh: Tư liệu

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Hòn Đỉnh Hương nằm gần hang Đầu Gỗ lại mang hình dáng như một lư hương khổng lồ giữa biển, xuất hiện trên tờ tiền 200.000 đồng. Ảnh: Tư liệu

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Ở phía Đông Nam vịnh là hòn Con Cóc mang dáng vẻ của một chú cóc đang ngồi giữa sóng nước. Ảnh: Nguyễn Thanh Sơn

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Hòn Bút nổi bật với hình dáng như một cây bút đá cắm thẳng lên mặt biển. Ảnh: Báo Lao Động

2. Ngũ Hành Sơn tại Đà Nẵng

Ngũ Hành Sơn là quần thể gồm sáu ngọn núi đá vôi nằm ven biển phía nam Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố khoảng 8km, từ lâu đã trở thành một điểm giao thoa giữa cảnh quan tự nhiên, tín ngưỡng và lịch sử vùng duyên hải miền Trung. Theo các nhà địa chất học, khu vực này vốn từng là những đảo đá nhỏ nằm ngoài khơi biển Đông. Qua quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thu Bồn cùng sự biến đổi địa chất kéo dài hàng triệu năm, dải đồng bằng ven biển Quảng Nam dần hình thành, khiến các khối núi đá vôi nối liền với đất liền như hiện nay.

Tên gọi Ngũ Hành Sơn xuất hiện từ thời Nguyễn và gắn với thuyết ngũ hành trong triết lý phương Đông. Năm 1825, vua Minh Mạng đã chính thức đặt tên cho các ngọn núi theo năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ dựa trên vị trí và thế núi trong quần thể. Trước đó, người dân địa phương quen gọi nơi đây là Non Nước – cái tên vẫn còn xuất hiện trong nhiều câu ca dao miền Trung.

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Các ngọn núi gồm Thủy Sơn, Kim Sơn, Mộc Sơn, Thổ Sơn cùng hai ngọn Âm Hỏa Sơn và Dương Hỏa Sơn, phân bố không xa biển và từng được xem như những đảo nổi giữa vùng cát trắng ven duyên hải. Thủy Sơn là ngọn lớn và cao nhất, đồng thời cũng là trung tâm tập trung nhiều chùa chiền, hang động và di tích lịch sử của toàn quần thể. Ảnh: Tư liệu

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Theo truyền thuyết, một lão ngư ven biển được thần Kim Quy giao nhiệm vụ canh giữ quả trứng thần. Khi trứng vỡ, năm mảnh vỏ hóa thành năm ngọn núi đá cẩm thạch, từ trong trứng bước ra một thiếu nữ xinh đẹp. Huyền tích này phản ánh cách người xưa lý giải sự xuất hiện của quần thể núi giữa vùng cát ven biển, đồng thời cho thấy mối liên hệ giữa Ngũ Hành Sơn với tín ngưỡng dân gian và văn hóa biển miền Trung. Ảnh: Tư liệu

Cấu trúc đá vôi cùng khí hậu nhiệt đới nhiều mưa đã tạo nên hệ thống hang động đặc trưng của Ngũ Hành Sơn. Khác với những hang động kín và sâu như ở Phong Nha hay Hạ Long, phần lớn hang động nơi đây là dạng hang mở, có nhiều khe thông sáng và đối lưu không khí tự nhiên nên luôn thoáng và mát mẻ.

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Những hang động nổi tiếng như Huyền Không, Huyền Vi, Vân Thông hay Quan Âm đều mang cấu trúc riêng. Động Huyền Không gây ấn tượng bởi phần trần mở lên bầu trời, để ánh nắng xuyên xuống các khối thạch nhũ và tượng thờ bên trong, tạo nên hiệu ứng ánh sáng thay đổi theo từng thời điểm trong ngày. Ảnh: Tư liệu

Qua nhiều thế kỷ, Ngũ Hành Sơn trở thành trung tâm tín ngưỡng và dấu tích lịch sử quan trọng của xứ Đàng Trong. Từ thế kỷ XVII, nhiều nhà sư đã đến đây dựng chùa, lập bia và tu hành trong các hang động. Trong khoảng thế kỷ XVII-XIX, khu vực này từng được xem là một trung tâm Phật giáo lớn của miền Trung với hệ thống chùa chiền phân bố trên nhiều ngọn núi. Những công trình như chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng, chùa Quan Âm hay Phổ Đà Sơn đều mang dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn với thế tựa lưng vào núi, hướng ra sông hoặc biển. Sang thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, quần thể tiếp tục được tu bổ và mở rộng. Vua Minh Mạng trong chuyến ngự du năm 1825 đã trực tiếp đặt tên cho nhiều hang động, chùa chiền và thắng cảnh tại đây.

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Bên cạnh giá trị Phật giáo, Ngũ Hành Sơn còn lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa khác nhau. Các nhà nghiên cứu từng tìm thấy dấu tích văn hóa Sa Huỳnh và ảnh hưởng của văn hóa Chăm Pa tại khu vực này, tiêu biểu là hình tượng Thiên Y A Na xuất hiện trong động Hoa Nghiêm. Ảnh: Tư liệu

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Hệ thống ma nhai – những văn bia khắc trực tiếp trên vách đá, hiện vẫn còn lưu giữ nhiều bút tích của vua chúa, cao tăng và tao nhân mặc khách qua nhiều thế kỷ. Các văn bia ở động Hoa Nghiêm và động Vân Thông cũng cho thấy sự giao lưu giữa thương nhân Nhật Bản với vùng Hội An – Đà Nẵng cách đây gần 400 năm, vào thời kỳ thương cảng miền Trung phát triển mạnh trên tuyến giao thương quốc tế. Ảnh: Hoàng Sơn

Ngày nay, ngoài hệ thống chùa cổ và hang động, Ngũ Hành Sơn còn gắn với làng đá mỹ nghệ Non Nước nằm dưới chân núi. Nghề điêu khắc đá tại đây đã tồn tại qua nhiều thế hệ, hình thành nên một làng nghề nổi tiếng của Đà Nẵng với các sản phẩm từ đá cẩm thạch và sa thạch. Năm 1990, quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Sự hiện diện đồng thời của địa hình đá vôi, hệ thống tín ngưỡng, dấu tích lịch sử và làng nghề truyền thống khiến nơi đây trở thành một trong những không gian văn hóa – địa chất đặc trưng của miền Trung Việt Nam.

3. Núi Đá Bia tại Phú Yên

Nằm ở điểm cuối của dãy Trường Sơn trước khi đổ ra Biển Đông, núi Đá Bia là ngọn núi cao nhất trong khối Đại Lãnh thuộc dãy Đèo Cả, nay thuộc xã Hòa Xuân, tỉnh Đắk Lắk. Trên đỉnh của ngọn núi cao 706m là khối đá khổng lồ cao khoảng 76m vươn thẳng lên trời, với hình dáng đặc biệt có thể nhận ra từ khoảng cách hàng chục kilomet. Tùy góc nhìn, Đá Bia mang những hình dạng khác nhau: từ xa giống một cây bút dựng đứng giữa trời nên người xưa gọi là Bi sơn bút thế, nhìn từ quốc lộ lại gợi hình tháp Chăm cổ, còn từ phía biển, khối đá hiện lên như “Ngón tay của Chúa” – tên gọi do các nhà hàng hải Pháp đặt vào cuối thế kỷ XIX để dùng làm mốc định hướng tàu thuyền.

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Đường lên núi Đá Bia dài khoảng 2.500 m với hơn 2.000 bậc đá men theo sườn núi và rừng nhiệt đới. Từ đỉnh núi, có thể nhìn bao quát vịnh Vũng Rô, hải đăng Mũi Điện, vịnh Vân Phong cùng những dải đồng bằng Tuy Hòa trải rộng phía xa. Ảnh: Tư liệu

Trong lịch sử và truyền thuyết dân gian, núi Đá Bia gắn với nhiều lớp ký ức văn hóa của miền duyên hải Nam Trung Bộ. Tương truyền vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông trong cuộc Nam chinh đã cho khắc chữ lên khối đá trên đỉnh núi để xác lập cương vực Đại Việt, từ đó xuất hiện tên gọi Thạch Bi Sơn. Với người Chăm, ngọn núi mang tên Lingaparvata, được xem là biểu tượng của thần Siva. Trong truyền thuyết Ê Đê, nơi đây được gọi là Kut Bhih, gắn với câu chuyện về bà Bhih – người vợ Ê Đê của vua Pô Rô Mê. Qua nhiều thế kỷ, dãy Đại Lãnh – Đá Bia cũng trở thành cột mốc tự nhiên phân định vùng đất Phú Yên và Khánh Hòa, đồng thời được người dân địa phương xem như thiên trụ trấn giữ vùng đất ven biển miền Trung.

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Vào sáng sớm hoặc những ngày nhiều mây, khối đá lớn thường ẩn hiện giữa lớp sương trắng, tạo nên hình ảnh đặc trưng đã xuất hiện trong nhiều ghi chép lịch sử, thơ ca và ký ức của người dân Phú Yên qua nhiều thế hệ. Ảnh: Báo Thanh Niên

4. Núi Đá Voi tại Đắk Lắk

Cặp Núi Đá Voi Yang Tao nằm giữa không gian hồ Lắk, ruộng lúa và dãy Chư Yang Sin của Đắk Lắk, cách trung tâm Buôn Ma Thuột khoảng 40km theo quốc lộ 27. Người dân nơi đây gọi hai khối đá granite nguyên khối này là Đá Voi Cha và Đá Voi Mẹ vì hình dáng giống những con voi đang nằm phủ phục giữa đất trời Tây Nguyên. Đá Voi Mẹ nằm sát chân núi thuộc xã Yang Réh, dài khoảng 200m, cao hơn 30m và được xem là khối đá granite nguyên khối lớn nhất Việt Nam. Đá Voi Cha nhỏ hơn, nằm cách khoảng 5km giữa cánh đồng thuộc xã Yang Tao.

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Qua thời gian dài phong hóa, trên bề mặt đá hình thành nhiều hốc nước nhỏ trong veo, trở thành một chi tiết tự nhiên đặc trưng của địa hình nơi đây. Ảnh: Dân Trí

Từ nhiều đời nay, Đá Voi Yang Tao gắn với truyền thuyết hòn đá biết đi. Người M’nông và Ê Đê trong vùng kể rằng hai khối đá từng dịch chuyển vị trí để tiến lại gần nhau. Đá Voi Cha vốn hướng ra hồ Lắk nhưng rồi xuất hiện giữa cánh đồng lúa chỉ sau một đêm, bên cạnh còn để lại hai rãnh nước dài được cho là dấu vết đường đi của đá. Trong đời sống tinh thần của cư dân bản địa, cặp Đá Voi được xem như vị thần bảo hộ buôn làng và biểu tượng của tình yêu đôi lứa. Nhiều đôi trai gái tìm đến đây để hẹn ước, cầu mong sự che chở cho tình cảm của mình.

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Xung quanh Đá Voi Cha còn lưu truyền nhiều giai thoại khác. Người dân kể rằng từng có người muốn khai thác đá, nhưng khi mũi đục vừa chạm vào bề mặt, một dòng chất đỏ như máu bất ngờ trào ra khiến tất cả hoảng sợ bỏ chạy. Từ đó, không ai còn dám xâm phạm khối đá. Một truyền thuyết khác kể về cô gái trẻ bị hòn đá “nuốt” mất khi đang vui chơi trên bề mặt đá mềm. Sau này, dân làng cho rằng cô đã trở thành người sống cùng thần đá, khiến nơi đây càng được xem là vùng đất linh thiêng. Ảnh: Dân Trí

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Từ dưới chân Đá Voi Mẹ, du khách chỉ mất khoảng 15-20 phút để lên đến đỉnh đá qua những triền dốc thoai thoải. Trên cao, cảnh quan hồ Yang Reh, hồ Lắk cùng dãy Chư Yang Sin hiện ra giữa những khoảng xanh nối tiếp của núi rừng Tây Nguyên. Qua thời gian dài phong hóa, trên bề mặt đá hình thành nhiều hốc nước nhỏ trong veo, trở thành một chi tiết tự nhiên đặc trưng của địa hình nơi đây. Ảnh: Dân Trí

Ngày nay, hành trình từ Đá Voi Mẹ đến Đá Voi Cha vẫn giữ được vẻ nguyên sơ đặc trưng của Tây Nguyên với những cánh đồng lúa, buôn làng và các triền núi nối tiếp nhau. Từ đỉnh Đá Voi Mẹ, du khách có thể nhìn ra hồ Yang Reh và dãy Chư Yang Sin. Vào mùa lúa chín, khoảng không quanh Đá Voi Cha phủ kín sắc vàng trải dài đến tận chân trời. Sự hiện diện của hai khối đá khổng lồ giữa cao nguyên khiến nơi đây trở thành một trong những cảnh quan địa chất đặc biệt của Đắk Lắk, đồng thời phản ánh mối gắn kết lâu đời giữa thiên nhiên và đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương.

5. Núi Đá Dựng ở Kiên Giang

Núi Đá Dựng là một khối đá vôi cao khoảng 100m, nằm gần biên giới Việt Nam – Campuchia, cách trung tâm Hà Tiên khoảng 7 km về phía Bắc. Từ lâu, nơi đây đã được xem là một trong Hà Tiên thập cảnh, từng xuất hiện trong tập thơ cùng tên của Mạc Thiên Tích với tên gọi Châu Nham hay núi ngọc. Theo ghi chép xưa, khu vực này từng có loại thạch nhũ phát sáng như châu báu, đồng thời lưu truyền câu chuyện người dân Phù Nam cổ mang ngọc ngà vào hang đá cất giấu khi chiến tranh xảy ra. Đến cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu khai khẩn vùng Hà Tiên và đặt tên Châu Nham Sơn cho ngọn núi sau khi tìm thấy ngọc quý tại đây.

Điểm đặc biệt của núi Đá Dựng nằm ở hệ thống khoảng 14 hang động lớn nhỏ liên kết với nhau như một mê cung trong lòng núi đá vôi. Qua quá trình xâm thực kéo dài, thiên nhiên đã tạo nên nhiều hang động với hình dạng và âm thanh khác nhau như hang Bồng Lai, hang Trống Ngực, hang Khổ Qua, hang Thần Kim Quy hay hang Cổng Trời. Trong các vách đá hiện vẫn còn dấu tích vỏ sò, vỏ ốc bám lại, cho thấy khu vực này từng bị ngập nước trong quá khứ. Một số hang động còn đặt tượng Phật và tháp thờ, gắn với dấu tích Phật giáo từ thế kỷ XVIII cùng những truyền thuyết về hạc đen, vượn xanh xuất hiện vào dịp lễ Phật.

viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son

Theo ghi chép địa phương, năm 1737 từng có một vị hòa thượng viên tịch tại núi Đá Dựng, sau đó đệ tử xây tháp bảy tầng để lưu giữ xá lợi. Dân gian còn truyền lại rằng vào các dịp Tam nguyên hay lễ Phật đản, hạc đen thường bay về chầu và vượn xanh mang trái cây đến dâng cúng. Ảnh: Tư liệu

Nui da voi viet nam dak lak phu yen kien giang quang ninh ngu hanh son da nang

Hệ thống hang động ở núi Đá Dựng mang những đặc điểm rất khác nhau: hang Bồng Lai mở ra khoảng trời rộng giữa lòng núi; hang Trống Ngực tạo tiếng vọng như tiếng trống khi vỗ tay lên ngực; hang Lầu Chuông phát ra âm thanh ngân vang từ các khối thạch nhũ; còn hang Thần Kim Quy nổi bật với khối đá vàng có hình rùa hướng về phía biên giới Campuchia. Trong số đó, hang Cội Hàng Da còn gắn với truyền thuyết Thạch Sanh nhìn thấy đại bàng cắp công chúa bay qua vùng núi đá. Ảnh: Tư liệu

Bên cạnh giá trị cảnh quan, núi Đá Dựng còn mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt của vùng biên giới Tây Nam. Nhờ vị trí gần Campuchia và cấu trúc nhiều hang động, nơi đây từng là tiền đồn chống quân Xiêm từ thế kỷ XVIII, sau đó trở thành cơ sở hoạt động cách mạng và điểm nối của tuyến đường 1C trong các cuộc kháng chiến trước năm 1975. Trong giai đoạn chiến tranh biên giới Tây Nam 1977-1978, núi Đá Dựng tiếp tục giữ vai trò tiền đồn quan trọng. Năm 2007, địa danh này được xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia như một chứng tích lịch sử của vùng đất Hà Tiên.

Thực hiện: Bảo Trân


Xem thêm: 

Hoa Lư: Kinh đô ẩn mình trong núi đá

Tinh hoa trà Hoàng Su Phì: Hương rừng, vị núi, hồn đất

Di sản trên vách đá: Wat Phou – Đền thiêng trên núi Voi