Trước khi là một quần thể di tích, Hoa Lư từng là một tuyên ngôn về cách người Việt định nghĩa quyền lực trong buổi đầu lập quốc. Không phải bằng những trục cung điện phô bày uy nghi, mà bằng thế đất: núi làm tường thành, sông làm hào, đền thờ làm trung tâm linh thiêng. Sự tương tác này biến quyền lực thành một phần của đất trời.

Cố đô Hoa Lư nhìn từ trên cao. Ảnh: Jonathan Ouimet
Có lẽ cũng vì thế mà sau hơn một nghìn năm, Hoa Lư vẫn mang một vẻ trầm mặc hiếm gặp ở những nơi từng là trung tâm quyền lực. Những mái đền thấp nép dưới chân núi đá vôi, những lớp đá xanh mang màu thời gian hay những hậu cung nơi bóng tối và ánh sáng đan xen, không gian nơi đây không tạo cảm giác phô trương hay choáng ngợp. Trái lại, mọi thứ dường như đang lùi xuống phía sau, để núi đá, sông nước và sự tĩnh lặng của địa hình trở thành điều hiện diện rõ nhất.

Cổng vào Chùa Bích Động. Ảnh: Amachau
Sau khi đánh dẹp và thu phục 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế và chọn Hoa Lư là kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt – nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của Việt Nam. Ông cần một nơi vừa dễ phòng thủ, vừa thuận lợi cho việc cai trị và phát triển. Vùng đất này mang đặc điểm địa lý được ghi lại là “núi trong sông, sông trong núi, căn cứ thủy bộ rất thuận tiện, sau lưng là rừng, trước mặt là đồng bằng, xa nữa là biển cả”. Hệ thống núi đá vôi trùng điệp tạo thành những bức tường thành tự nhiên; dòng Hoàng Long uốn khúc cùng hệ thống khe ngòi chằng chịt tạo nên hào nước bảo vệ vững chắc. Đây là thế đất mà người xưa gọi là “tiền thủy hậu sơn” (phía trước có sông nước, phía sau có núi che chắn), một địa thế lý tưởng theo quan niệm phong thủy truyền thống.

Toàn cảnh Chùa Bái Đính (Ninh Bình) với kiến trúc đồ sộ nép mình bên những dãy núi đá vôi hùng vĩ, minh chứng cho triết lý kiến trúc nương tựa vào linh khí đất trời. Ảnh: Lê Việt Khánh
Hoa Lư chưa bao giờ chỉ thuộc về một triều đại. Sau nhà Đinh và Tiền Lê, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai (1285), các vua Trần đã chọn vùng Tràng An để xây dựng căn cứ kháng chiến, tích trữ lương thảo, củng cố lực lượng và chuẩn bị cho các cuộc phản công. Hành cung Vũ Lâm ra đời từ đó, nhưng không chỉ mang ý nghĩa quân sự. Đây cũng là nơi các vua Trần lập am tu hành, gắn với sự hình thành của Thiền phái Trúc Lâm cuối thế kỷ XIII. Những ngôi chùa, dấu tích Phật giáo và hang động thiền định dần hiện diện giữa núi đá, khiến Hoa Lư chuyển từ một kinh đô quân sự thành không gian mang chiều sâu tâm linh. Quyền lực chính trị rồi cũng lùi lại, nhưng địa hình ấy vẫn tiếp tục được gìn giữ như một vùng đất có linh khí đặc biệt.

Khu vực Hành cung Vũ Lâm thời Trần nằm chính tại vùng lõi của danh thắng Tràng An hiện nay. Hình ảnh ngôi thủy đình bằng gỗ, mái ngói cổ nằm giữa bốn bề sông nước và núi đá dựng đứng tái hiện chính xác cảm giác về một không gian tu hành và ẩn dật của các vị vua Trần sau khi rời xa quyền lực chính trị. Ảnh: Tư liệu

Dòng sông Ngô Đồng uốn lượn như một dải lụa mềm mại xuyên qua lòng thung lũng Tam Cốc. Ảnh: Amachau
Kinh đô Hoa Lư xưa rộng hơn 300 ha, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi, các triều vua dựa theo địa hình tự nhiên mà đắp thêm mười đoạn tường thành nối các vách đá lại với nhau. Thành có hai vòng sát nhau: vòng ngoài gọi là thành Đông, vòng trong gọi là thành Tây, cùng một thành Nam phía hậu cứ. Người xưa không xây một kinh thành hoàn toàn mới, mà chỉ hoàn thiện những gì địa hình đã âm thầm tạo dựng từ trước. Khoảng trống giữa các sườn núi được xây kín bằng đất ken gạch, chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8 đến 10m. Nhờ vậy, Hoa Lư trở thành một pháo đài vững chắc mà không cần tốn kém quá nhiều công sức kiến tạo từ đầu.

Bản đồ minh chứng cho khả năng hòa mình vào núi sông của kiến trúc Hoa Lư, nơi ranh giới giữa vật liệu nhân tạo và địa hình tự nhiên gần như bị xóa nhòa. Ảnh: Tư liệu
Kiến trúc và cảnh quan tại đây tạo thành một hệ thống không thể tách rời. Núi đá, hang động, sông ngòi và thung lũng đều được đưa vào cấu trúc tinh thần của kinh đô như những yếu tố mang linh khí. Núi Mã Yên nằm ngay trước đền vua Đinh Tiên Hoàng. Sông Sào Khê chảy dọc theo các công trình, vừa là đường thủy giao thông vừa là tuyến phòng thủ. Đền thờ, thành quách, lăng mộ và núi sông đều tuân theo nguyên tắc sơn thủy hài hòa. Kiến trúc không cố gắng áp đảo thiên nhiên mà ẩn mình vào đó. Đây có lẽ là điều tạo nên tính cách riêng của Hoa Lư, một kinh đô mà quyền lực được đo bằng sự gắn kết với địa hình, chứ không phải bằng khả năng chinh phục nó.

Cổng Đông (Nghi môn ngoại) dẫn vào khu di tích Cố đô Hoa Lư. Ảnh: Tư liệu
Hai ngôi đền chính là Đền vua Đinh Tiên Hoàng và Đền vua Lê Đại Hành nằm cách nhau khoảng 300m trong khu vực thành Đông. Cả hai đều xây theo kiểu “nội công ngoại quốc”: thấp, trầm và khép kín, với các lớp mái nặng đổ bóng xuống sân gạch cũ. Kiến trúc không cố gắng chiếm lĩnh không gian, mà giữ cho mình một khoảng lùi trước thiên nhiên bao quanh.

Những nếp mái thấp dưới bóng núi Mã Yên minh chứng cho tư duy “sơn thủy hài hòa” tại Hoa Lư. Ảnh: Tư liệu
Tại Đền vua Đinh, trục nghi lễ bắt đầu từ Ngọ Môn, đi qua sân rồng, Bái đường năm gian, rồi đến Thiêu hương, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu Cơ, trước khi vào Chính cung năm gian. Chính cung đặt tượng vua Đinh Tiên Hoàng ở giữa, bên trái là Nam Việt Vương Đinh Liễn, bên phải là Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn. Không gian được bố trí theo chiều sâu, từng lớp nối tiếp nhau. Mỗi bước chân đưa người từ khoảng sáng mở của sân ngoài vào những khoảng tối dần của hậu cung. Ánh sáng bị lọc qua hiên sâu, chỉ còn những vệt xiên lệch trên nền gạch cổ và cột gỗ.

Đền vua Đinh Tiên Hoàng. Ảnh: Trung tâm bảo tồn Di tích Lịch sử – Văn hóa Cố đô Hoa Lư Ninh Bình.
Đền vua Lê Đại Hành nhỏ hơn và gần gũi hơn, nhưng vẫn giữ tinh thần tương tự. Đền có ba tòa Bái đường, Thiêu hương thờ Phạm Cự Lượng (người có công với vua Lê Đại Hành), và Chính cung, nơi gian giữa thờ Lê Hoàn, bên phải là Lê Long Đĩnh, bên trái là hoàng hậu Dương Vân Nga, tượng bà quay hướng nam về phía đền vua Đinh. Theo lý giải dân gian, dù đã xuất giá theo vua Lê, bà vẫn hướng về người chồng trước. Gian phụ bên trái chính cung thờ công chúa Lê Thị Phất Ngân, con gái của vua Lê và Dương Vân Nga, sau này là vợ của Lý Thái Tổ, tổ mẫu của các vua nhà Lý. Quy mô khiêm tốn hơn khiến người ta dễ cảm nhận sự chuyển tiếp từ thế tục vào cõi thiêng, như một hành trình thu nhỏ lại theo từng bước chân vào sâu.

Đền vua Lê Đại Hành. Ảnh: Trung tâm bảo tồn Di tích Lịch sử – Văn hóa Cố đô Hoa Lư Ninh Bình.
Ở Hoa Lư, thiên nhiên không chỉ dừng lại ở vai trò cảnh quan hay phòng thủ. Núi đá tạo nên chiều sâu tâm linh cho toàn bộ không gian nghi lễ. Bóng núi đi vào hậu cung. Hơi nước từ sông ngòi phủ lên mặt đá một lớp ẩm lạnh. Ánh sáng bị địa hình giữ lại dưới các lớp mái sâu, chỉ còn hiện diện thành những vệt mỏng lướt qua cột gỗ cũ hoặc dừng lại trên các bề mặt đá đã mòn theo thời gian.

Chùa Bích Động – “Nam thiên đệ nhị động” nơi cổng tam quan bằng đá tựa lưng vào vách núi, mở ra một lối đi dẫn sâu vào lòng hang tối, tận dụng linh khí của núi đá để tạo nên vẻ đẹp u huyền và tĩnh tại. Ảnh: Tư liệu
Vật liệu tại Hoa Lư chủ yếu lấy từ chính vùng đất này. Đá xanh Ninh Bình là vật liệu chủ đạo, có màu xám lạnh, bề mặt bào mòn theo năm tháng, lộ rõ vân đá và lớp rêu mỏng do hơi ẩm sông núi. Từ nền sân, bệ thờ đến cặp long sàng (sập đá nguyên khối đặt giữa sân Rồng đền Đinh, nay là bảo vật quốc gia), tất cả đều giữ nguyên cái lạnh mát của đá, cái thô ráp đã được thời gian làm cho mềm lại.

Các bức chạm khắc rồng bằng đá trong đền thờ vua Đinh. Ảnh: Trịnh Sinh
Đối lập với đá là hệ khung gỗ lim sẫm màu, bóng lên theo năm tháng. Những cột cái lớn và xà ngang được chạm trổ hoa văn rồng mây tinh xảo. Phía trên, mái ngói âm dương cũ kỹ, xô lệch theo thời gian. Và dưới lòng đất, qua các đợt khai quật khảo cổ, người ta tìm thấy những viên gạch đỏ còn hằn dòng chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (loại gạch chuyên dùng xây kinh thành, niên đại thế kỷ thứ 10), là dấu ấn định danh của một vương triều độc lập, nằm yên trong lòng đất suốt hơn nghìn năm trước khi được tìm lại.

Lối vào hậu cung đền vua Lê. Ảnh: Trịnh Sinh
Nhìn rộng hơn, Hoa Lư dường như hé lộ một tinh thần xuyên suốt của kiến trúc Việt. Từ đình làng Bắc Bộ, chùa cổ ven núi đến những ngôi nhà truyền thống nép bên sông nước, kiến trúc Việt hiếm khi tìm cách đối đầu với cảnh quan. Nó thường thấp, sâu, gần mặt đất, và mở ra để đón cây cối, gió nước cùng ánh sáng tự nhiên đi vào đời sống thường nhật.

Ảnh: Tư liệu
Có lẽ người Việt chưa bao giờ xem thiên nhiên là thứ cần bị khuất phục hoàn toàn. Tại Hoa Lư, tư duy ấy hiện diện rõ trong từng mái đền thấp dưới chân núi, từng khoảng tối sâu trong hậu cung, và cả cách kinh đô đầu tiên của Đại Cồ Việt chọn ẩn mình vào địa hình thay vì đứng lên khỏi nó.
Thực hiện: Lê Vi
Xem thêm:
Cố đô Việt Nam: Khi địa thế quyết định quốc vận