Hành trình bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo

Đứng trước thực trạng suy giảm của loài rùa biển do biến đổi khí hậu và tác động của con người, nhiều tổ chức quốc tế và chính quyền địa phương  đã triển khai các chiến dịch bảo tồn, thu hút sự tham gia của đông đảo tình nguyện viên. 

Xuất hiện từ Kỷ Jura khoảng hơn 200 triệu năm trước, rùa biển đã chứng minh sức sống kiên cường khi sống sót qua thảm họa tuyệt chủng của loài khủng long và kỷ băng hà để tồn tại cho đến ngày nay. Thế nhưng, trước những tác động cực đoan của biến đổi khí hậu và con người, loài sinh vật cổ đại này hiện đang phải đối mặt với nguy cơ diệt vong. Chính bối cảnh nguy cấp đó đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều chương trình bảo tồn nhằm chung tay giải cứu rùa biển, thu hút đông đảo sự quan tâm và tham gia của cộng đồng những người quan tâm đến môi trường ở nhiều độ tuổi.

Tầm quan trọng của rùa biển với đại dương

Để hiểu được tầm quan trọng của rùa biển đối với hệ sinh thái đại dương, chúng ta cần nhìn nhận chúng qua lăng kính của sinh học tiến hóa và sinh thái học hệ thống. Sự biến mất của rùa biển sẽ không dừng lại ở một dòng tên trong Sách đỏ hay một mắt xích cổ xưa bị xóa bỏ – đó sẽ là khởi đầu cho những đứt gãy dây chuyền dưới đáy đại dương.

Hiện nay, tại vùng biển Việt Nam đã ghi nhận sự xuất hiện của 5 loài rùa biển bao gồm: Rùa da, Vích (Rùa xanh), Đồi mồi, Đồi mồi dứa và Quản đồng. Ngoại trừ Quản đồng chỉ đến kiếm ăn trong thời gian nhất định, 4 loài còn lại đều chọn các bãi cát Việt Nam làm nơi sinh sản. Mỗi loài, với đặc tính sinh học riêng biệt, đều đóng góp vào việc duy trì và bảo vệ hệ sinh thái biển Việt Nam.

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Từ trái sang phải: Rùa da (Dermochelys coriacea); Vích (Chelonia mydas); Đồi mồi dứa (Lepidochelys olivacea); Đồi mồi (Eretmochelys imbricata); Quản đồng (Caretta caretta). Sự khác nhau giữa các loài được thể hiện trên mai và đầu. Hình vẽ trích dẫn từ tài liệu “Research and Management Techniques for the Conservation of sea Turtle” (1999). Ảnh: Sưu tầm

Chẳng hạn, Vích (Rùa xanh) – thường gặp nhất tại vùng biển Việt Nam, là loài rùa biển duy nhất ăn thực vật. Chúng liên tục cắt tỉa các thảm cỏ biển (như cỏ vích, cỏ xoan), giúp tăng cường chu trình tuần hoàn dinh dưỡng và ngăn chặn sự bùng phát của tảo độc. Thiếu chúng, những vùng “vườn ươm” hải sản nuôi sống con người sẽ biến thành những vùng biển chết.

Với bộ hàm cực mạnh, Đồi mồi là khắc tinh của hải miên (bọt biển) – loài sinh vật chuyên tiết độc tố để chiếm không gian sống và bóp nghẹt các rạn san hô. Nếu Đồi mồi biến mất, san hô cũng có khả năng bị hủy diệt.

Sở hữu kích thước khổng lồ, Rùa da là loài duy nhất có khả năng tiêu hóa lượng lớn sứa biển mỗi ngày và vô hiệu hóa độc tố của chúng. Sự hiện diện của Rùa da giữ cho quần thể sứa không bùng phát vô độ, bảo vệ trứng và cá con, cũng là bảo vệ nguồn lợi thủy sản của con người.

Sự suy giảm của rùa biển và sự ra đời của các chiến dịch bảo tồn

Tồn tại qua hàng triệu năm, nhưng chính đặc tính sinh học ung dung và chậm rãi đã khiến số lượng các loài rùa biển bị ảnh hưởng nặng nề bởi các tác động của con người. Vòng đời của rùa biển dài, mất từ 15 đến 30 năm mới đạt đến độ tuổi trưởng thành để có thể sinh sản. Tuy nhiên, tỷ lệ sống sót trong tự nhiên đến tuổi trưởng thành của con non chỉ 1/1.000. Từ lúc nứt vỏ, chúng đã phải vượt qua một cuộc chạy đua sinh tử trên bãi cát trắng với sự mai phục của kiến, cua, kỳ nhông, chim và cá lớn. Không những vậy, rác thải nhựa trôi nổi khiến rùa lầm tưởng sứa mà nuốt phải, lưới đánh cá thả trôi âm thầm bóp nghẹt sự sống, cùng nạn săn bắt tận diệt từ trứng đến rùa mẹ, tất cả đẩy loài sinh vật cổ đại này vào thế bí sinh tồn. Hậu quả là một cuộc lao dốc về số lượng rùa biển được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) ghi nhận. 

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Số liệu suy giảm của rùa biển tại Việt Nam vào năm 2012. Nhờ những nỗ lực bảo tồn, đến năm 2025, IUCN đã chuyển tình trạng của Vích (rùa xanh) thành LC (Least Concern); sách đỏ VN vẫn như cũ. Ảnh: Tài liệu IUCN Redlist 2012

Trước những năm 80 của thế kỷ 20, số lượng rùa biển tại Việt Nam rất lớn, nhất là loài Vích có thể lên đến hàng chục ngàn con lên bờ đẻ trong một năm. Hiện nay, số lượng của chúng đã suy giảm rất nhiều. Tại Côn Đảo, số lượng Vích lên đẻ hàng năm dao động trong khoảng từ 200 đến 300 con, tại các địa phương khác như Quảng Ninh, Quảng Trị, Bình Định, Ninh Thuận,… số lượng tại mỗi địa phương là từ 10 đến 20 con. Các loài khác như Đồi mồi, Đồi mồi dứa và Rùa da số lượng còn ít hơn, ước tính có ít hơn 10 cá thể mỗi loài sinh sản hàng năm trên toàn vùng biển Việt Nam.” – trích 101 Câu hỏi và Trả lời về Bảo tồn Rùa biển, Gland, Thụy Sĩ: IUCN, Chu Thế Cường và Bùi Thị Thu Hiền (2015). 68 trang. 

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Chúng ta không cách nào đếm được những con rùa không bao giờ lên bờ. Rùa đực và rùa chưa trưởng thành dành trọn vòng đời dưới lòng biển sâu, biến việc kiểm đếm toàn bộ cá thể trở thành điều bất khả thi. Chỉ có rùa cái đến mùa sinh sản lên bãi đẻ, số lượng trứng và số lượng rùa con được thả về biển mới là những hằng số có thể thống kê trực tiếp và chính xác. Ảnh: Choice

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Rùa biển sở hữu một đặc tính sinh học kỳ diệu mang tên Natal Homing (Bản năng quay về nơi sinh) – bản năng định vị, quay về đúng bãi cát nơi mình từng sinh ra để duy trì nòi giống. Do đó, khi thả rùa con về biển, cần thả trên cát, cách mép nước một khoảng nhất định để rùa con có thể ghi nhớ bản đồ từ trường của Trái Đất, cảm nhận âm thanh của sóng và ghi nhớ vị mặn đặc trưng của bãi cát. Ảnh: Thùy Như

Đứng trước sự suy giảm đáng báo động của rùa biển, những người yêu môi trường, các tổ chức và chính quyền quyết định hành động, dẫn đến sự ra đời của các chiến dịch bảo tồn rùa biển, tiêu biểu là Chương trình Bảo tồn Rùa biển được Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) phối hợp triển khai thường niên cùng Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo. 

Ném mình vào mùa bão

Tháng 8 năm ngoái, tôi có cơ hội tham gia chương trình bảo tồn rùa biển với vai trò tình nguyện viên tại Hòn Tài Lớn thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo. Với tôi, đây là cơ hội để bước ra khỏi những trải nghiệm quen thuộc của bản thân, trực tiếp đóng góp vào công tác bảo vệ động vật hoang dã. 

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Ảnh: Thanh Dung

Sau khi hoàn thành tập huấn chuyên môn với Ban quản lý VQG Côn Đảo, nhóm tình nguyện viên chúng tôi được phân công về Trạm Kiểm lâm Hòn Tài để bắt đầu chuỗi nhiệm vụ kéo dài 10 ngày. Tại đây, mọi hoạt động sinh hoạt và làm việc đều phải điều chỉnh nghiêm ngặt để nhường chỗ cho nhịp sinh học hoang dã của loài rùa biển.

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Trạm Kiểm lâm Hòn Tài. Ảnh: Thành Chân Đất

Quy định đầu tiên là tuyệt đối không xuất hiện trên bãi cát sau 3 giờ chiều. Về mặt sinh học, đây là thời điểm rùa mẹ bắt đầu thám thính bãi đẻ từ xa. Với hệ thị giác nhạy bén, mọi chuyển động của con người trên bờ vào lúc này đều có thể khiến rùa sợ hãi và bỏ bãi. Khi bóng tối buông xuống, toàn trạm thực hiện nghiêm ngặt kỷ luật tắt đèn sau 6 giờ tối nhằm xóa bỏ ô nhiễm ánh sáng. Vì rùa biển định hướng ra đại dương dựa vào ánh sáng đường chân trời, việc giữ không gian tối tuyệt đối là cách duy nhất để rùa mẹ an tâm bò lên bờ. Lúc tuần tra, lực lượng cứu hộ chỉ sử dụng đèn LED ánh sáng đỏ – thứ ánh sáng có bước sóng dài ít tác động lên mắt rùa nhất.

Công tác tuần tra đêm hoàn toàn phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều, vốn lệch nhau khoảng 50 phút mỗi ngày, khiến giờ giấc làm việc thường xuyên thay đổi. Vì một cá thể rùa trưởng thành nặng từ 80kg đến gần 2 tạ, việc di chuyển trên cạn là một thử thách gây kiệt sức đối với chúng. Do đó, rùa mẹ luôn đợi đỉnh triều dâng cao nhất để mượn sức nâng của sóng biển đưa cơ thể vào sâu trong bãi cát một cách đỡ tốn sức nhất và an toàn cho ổ trứng không bị sóng đánh vào.

Khi phát hiện rùa lên bờ, chúng tôi phải bất động và im lặng tuyệt đối trong khoảng một tiếng cho đến khi rùa mẹ đào tổ ổn định. Lúc này, cán bộ Vườn quốc gia cùng tình nguyện viên mới tiếp cận để đo đạc kích thước, kiểm tra vảy và bấm thẻ định danh nếu rùa mẹ chưa có. Ngay sau đó là công đoạn di dời trứng về hồ ấp. Quy tắc vàng mang tính bắt buộc là trứng phải được đưa vào hồ trong vòng 3 tiếng sau khi đẻ. Thời điểm này phôi trứng chưa dính vào vỏ nên việc di chuyển tương đối an toàn; nếu để quá thời gian này, mọi sự rung lắc đều có thể làm đứt phôi và gây ung hỏng trứng.

Quy trình làm việc ban ngày tiếp tục với công tác kiểm đếm các tổ rùa đã nở, hỗ trợ thả rùa con về biển và vệ sinh hồ ấp. Những lúc không có nhiệm vụ bảo tồn, nhóm tận dụng thời gian để khảo sát thực địa, tìm hiểu hệ sinh thái đảo hoặc leo núi tham quan điểm cơ sở A3 – một trong 11 cột mốc quan trọng dùng để xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Hồ ấp trứng. Ảnh: Thanh Dung

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Công tác đào tổ trong hồ ấp. Ảnh: Thùy Như

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Trứng rùa được xếp vào thùng xốp để di dời từ Hòn Trác về hồ ấp. Ảnh: Thùy Như

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Ảnh: Thùy Như

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Điểm cơ sở A3. Ảnh: Trường

Bên cạnh những trải nghiệm chuyên môn, cuộc sống tại hòn nhỏ trong mùa bão luôn đi kèm với những thử thách nhất định về điều kiện sinh hoạt. Khó khăn đầu tiên là sự hạn chế về mặt thông tin khi sóng điện thoại chập chờn và mạng internet là thứ xa xỉ.

Hệ thống hạ tầng năng lượng cũng là một bài toán nan giải. Thời điểm tháng 8/2025, dự án cấp điện lưới bằng cáp ngầm từ Sóc Trăng ra Côn Đảo chưa hoàn thiện, nguồn điện trên hòn phụ thuộc hoàn toàn vào năng lượng mặt trời. Những ngày mưa bão kéo dài, lượng điện ít ỏi phải ưu tiên cho các công việc vận hành trạm. Chúng tôi phải chấp nhận việc điện thoại của mình nằm im một góc vì quên sạc dự phòng, nồi cơm điện bỗng chốc trở thành vật trưng bày. Cả đám quay về thời kỳ nấu cơm bằng nồi gang trên bếp ga hoặc bếp củi. Những lúc mắt cay xè vì khói bếp, tôi bỗng thấy thấm thía những câu chữ trong bài thơ “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt.

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Ảnh: Sưu tầm

Chuyện lương thực lại là một bài toán căng thẳng khác. Trước khi lên hòn, nhóm tình nguyện viên chúng tôi được đi chợ để mua thực phẩm đủ cho 10 ngày, nên đây là một thử thách với những ai chưa có kinh nghiệm chuẩn bị bữa ăn. Chưa kể vào những ngày mưa bão, biển động, dù chỉ cách đảo chính 5km, ngay cả Hòn Tài Lớn cũng hoàn toàn bị cô lập vì chẳng có tàu nào được phép xuất cảng. Nếu tính toán sai, tình huống thiếu lương thực hoàn toàn có thể xảy ra. Chính từ những thiếu thốn đó đã cho tôi thêm nhiều kinh nghiệm về tính độc lập và tự lập.

Can thiệp thô bạo hay trách nhiệm không thể thoái thác? 

Nhiều ý kiến hoài nghi cho rằng những việc như đào tổ, di dời trứng và kiểm soát quy trình ấp nở thực chất là hành vi can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Theo hệ quy chiếu của Luật Đa dạng sinh học Việt Nam 2008 cũng như các Công ước Đa dạng sinh học (CBD) 1992, luật pháp quốc tế và Việt Nam vốn phân định rất rõ hai khái niệm cốt lõi: Bảo tồn tại chỗ, hay Bảo toàn nội vi [1] (In-situ conservation) – bảo vệ loài trong chính sinh cảnh tự nhiên của chúng, và Bảo tồn chuyển chỗ, hay Bảo toàn ngoại vi [2] (Ex-situ conservation) – di dời loài ra khỏi môi trường sống tự nhiên để nhân nuôi, lưu giữ trong môi trường nhân tạo như bể kính hay phòng thí nghiệm.

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Ảnh: Sưu tầm

Theo góc nhìn khoa học từ chị Bùi Thị Thu Hiền – Quản lý Chương trình Biển và Vùng bờ IUCN Việt Nam; Điều phối Chương trình Tình nguyện viên Bảo tồn Rùa biển, về nguyên tắc, các nhà khoa học luôn ưu tiên để trứng rùa được phát triển hoàn toàn trong điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, tại một số bãi đẻ đối mặt với nguy cơ ngập nước, xói lở hay thiên địch, việc di dời trứng đến khu vực ấp được quản lý là một biện pháp bảo tồn đã được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm tăng khả năng sống sót cho thế hệ rùa con, trong ngôn ngữ bảo tồn, gọi là Bảo tồn tại vị. Chị cũng nhấn mạnh rằng: “Các nghiên cứu hiện nay cho thấy rủi ro lớn nhất đối với giới tính của rùa biển không phải đến từ các chương trình bảo tồn được quản lý tốt, mà đến từ biến đổi khí hậu. Nhiệt độ cát ngày càng tăng tại nhiều bãi đẻ trên thế giới đang khiến tỷ lệ rùa cái cao hơn đáng kể so với rùa đực. Vì vậy, việc bảo tồn rùa biển ngày nay cần được nhìn nhận trong bối cảnh rộng hơn của tác động biến đổi khí hậu và suy giảm các hệ sinh thái ven biển.” 

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Rùa mẹ đang đẻ trứng. Ảnh: Thùy Như

Một sự thật không thể phủ nhận, rằng mọi nỗ lực can thiệp khoa học vào đại dương dù có uy tín đến đâu, suy cho cùng vẫn là những hành động khắc phục hậu quả do chính con người tạo ra. Khi hệ sinh thái biển đã bị xáo trộn bởi khí thải và rác thải, việc sửa chữa những sai lầm đó trở thành một nghĩa vụ hiển nhiên, không ai có thể viện dẫn lý do gì để từ chối.

Những con số đáng tự hào của chiến dịch bảo tồn rùa biển tại VQG Côn Đảo

Mọi lập luận về mặt lý thuyết hay quy định pháp lý sẽ trở thành sáo rỗng nếu không có những con số thực tế minh chứng cho mức độ hiệu quả của công tác bảo tồn. Nhìn vào số liệu thống kê do VQG Côn Đảo công bố từ năm 1993 – thời điểm VQG Côn Đảo được thành lập và bắt đầu triển khai các biện pháp bảo tồn đến năm 2025, sự dịch chuyển khả quan của những con số đã cho thấy hiệu quả của cả một hệ thống. Từ chỗ chỉ giải cứu được một vài tổ rùa và vài ngàn quả trứng khỏi nạn trộm cắp tràn lan trong quá khứ, đến năm 2025, cán bộ vườn và tình nguyện viên đã phát hiện, di dời và bảo vệ thành công tổng cộng 2.961 tổ rùa, 282.558 quả trứng vào các hồ ấp. Đi kèm với đó, tỷ lệ trứng nở tự nhiên ngoài bãi cát vốn dao động rất thấp do thiên địch và thời tiết cực đoan, nhưng nhờ quy trình kiểm soát nhiệt độ, năm 2025 đã ghi nhận con số kỷ lục với 217.266 cá thể rùa con rời khỏi vỏ thành công.

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Ảnh: VQG Côn Đảo

Đối với những người làm công tác điều phối, thành công của chương trình bảo tồn rùa biển tại VQG Côn Đảo không chỉ được đo đếm bằng những con số như thế. Chị Thu Hiền – người đã đồng hành cùng chiến dịch suốt hơn 12 năm qua chia sẻ: “Khi một người được tận mắt chứng kiến rùa mẹ lên bãi đẻ trứng hay những bé rùa con trở về biển, họ thường không còn nhìn thiên nhiên như trước nữa. Đó là một sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức, trong cách nhìn về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, cũng như trong sự quan tâm và trách nhiệm đối với cộng đồng và môi trường. Đó cũng là điều chúng tôi mong muốn nhất: không chỉ bảo vệ rùa biển hôm nay, mà còn góp phần nuôi dưỡng một thế hệ quan tâm hơn đến đại dương, môi trường và tương lai phát triển bền vững của đất nước”. Sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức mà chị nhắc đến, tôi đã tự mình trải qua trong suốt những ngày công tác tại Hòn Tài Lớn. Một vài tổ rùa chúng tôi di dời, vài trăm quả trứng cẩn thận xếp vào hồ ấp nghe thật nhỏ bé, nhưng đó chính là cách những hạt giống ý thức được gieo vào lòng cát.

rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Nhóm TNV bảo tồn rùa biển đợt tháng 8/2025. Ảnh: Trang Bốp

bao ton rua bien con dao dai duong phat trien ben vung

Ảnh: Sưu tầm

Công tác cứu hộ, suy cho cùng, cũng chỉ là giải pháp tình thế nhằm giải quyết phần ngọn của vấn đề. Chúng ta cần một chiến lược toàn diện hơn để cân bằng giữa dòng chảy mưu sinh của con người và sự sống của tự nhiên. “Cái đích cuối cùng của bảo tồn không chỉ là ‘cứu đại dương’, mà là xây dựng một mối quan hệ hài hòa, nơi phát triển kinh tế, sinh kế cộng đồng và bảo tồn thiên nhiên có thể cùng tồn tại. Để một ngày nào đó, những câu chuyện về rùa biển trở về đẻ trứng trên các bãi biển Việt Nam sẽ không còn là một kỳ tích hiếm hoi, mà trở thành một phần bình thường, duy mỹ và hiển nhiên của một hành tinh khỏe mạnh.” – chị Thu Hiền, Quản lý Chương trình Biển và Vùng bờ IUCN Việt Nam; Điều phối Chương trình Tình nguyện viên Bảo tồn Rùa biển.


Những thứ cần chuẩn bị khi tham gia chương trình Bảo tồn rùa biển: 

Trước ngày khởi hành, điều phối chương trình từ phía IUCN sẽ gửi cho nhóm tình nguyện viên một bảng thông tin cập nhật chi tiết về đặc điểm của hòn đi kèm danh mục các vật dụng cá nhân cần thiết. Bạn chỉ cần đọc kỹ hướng dẫn và chuẩn bị đầy đủ theo danh sách. Trong đó, những món quan trọng nhất có thể kể đến: 

Cục sạc dự phòng

Quạt điện nhỏ (bạn có thể sạc vào buổi sáng và dùng vào buổi tối)

Đèn pin (bọc giấy kiếng đỏ hoặc sơn màu đỏ vào bóng đèn)

Giày/ dép chống trượt

Thuốc xịt/ bôi chống muỗi, bù mắt

Thuốc men cần thiết 

—–

[1] Bảo tồn tại chỗ, Bảo toàn nội vi, Bảo tồn tại vị đều dùng để chỉ việc bảo vệ loài trong chính sinh cảnh tự nhiên của chúng. Tuy nhiên có sự khác biệt trong cách dịch và dùng từ giữa Luật Đa dạng sinh học Việt Nam (dùng Bảo tồn tại chỗ), Công ước về Đa dạng sinh học 1992 (dùng Bảo toàn nội vi) và IUCN Việt Nam (dùng Bảo tồn tại vị).

[2] Bảo tồn chuyển chỗ, Bảo toàn ngoại vi, Bảo tồn ngoại vị đều dùng để chỉ việc di dời loài ra khỏi môi trường sống tự nhiên để nhân nuôi, lưu giữ trong môi trường nhân tạo như bể kính hay phòng thí nghiệm. Tuy nhiên có sự khác biệt trong cách dịch và dùng từ giữa Luật Đa dạng sinh học Việt Nam (dùng Bảo tồn chuyển chỗ), Công ước về Đa dạng sinh học 1992 (dùng Bảo toàn ngoại vi) và IUCN Việt Nam (dùng Bảo tồn chuyển vị).

Thực hiện: Thùy Như


Xem thêm: 

Những góc nhìn sáng tạo từ đại dương

Nghệ sĩ Azuma Makoto mang hoa xuống đại dương

Vật liệu bền vững mới đến từ đại dương