Dân ca quan họ, quan họ Bắc Ninh hay quan họ Kinh Bắc, là một loại hình dân ca tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sinh ra trong không gian văn hóa Kinh Bắc cổ, quan họ không chỉ là âm nhạc dân gian mà còn là một hình thức sinh hoạt cộng đồng giàu tính nhân văn, nơi con người gặp gỡ, giao lưu và kết nối thông qua tiếng hát. Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, loại hình nghệ thuật này trở thành biểu tượng văn hóa của vùng Bắc Ninh và Bắc Giang, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cư dân làng xã.

Biểu diễn quan họ trước Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh. Ảnh: Đoàn Công Vũ
Khởi nguồn từ tiếng hát
Tên gọi “quan họ” cho đến nay vẫn chưa có một cách giải thích thống nhất với nhiều giả thuyết từng được đưa ra. Có cách hiểu tách hai chữ “quan” và “họ” theo nghĩa từ nguyên, từ đó suy đoán đây từng là âm nhạc của tầng lớp nhà quan, hoặc có nguồn gốc từ môi trường cung đình. Một truyền thuyết khác kể rằng một vị quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã dừng ngựa trước tiếng hát của một cô gái và say mê thưởng thức, từ đó cái tên quan họ ra đời. Song những cách lý giải này phần lớn dựa trên giai thoại hoặc suy diễn ngôn ngữ, trong khi lại bỏ qua cấu trúc sinh hoạt văn hóa đặc thù vốn là linh hồn của quan họ.

Ảnh: Nguyễn Trọng Hiếu
Một số học giả cho rằng quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ dân gian mang yếu tố phồn thực, gắn với đời sống nông nghiệp và tín ngưỡng bản địa hơn cung đình. Có quan điểm khác lại nhìn nhận quá trình hình thành của quan họ theo một vòng tuần hoàn phức tạp hơn, khởi phát từ nghi lễ dân gian, được tiếp biến qua môi trường cung đình, rồi trở lại với dân gian dưới hình thức hát giao duyên. Lại có những phân tích ngữ nghĩa cho rằng “quan họ” có thể hiểu là “quan hệ”, chỉ mối liên kết của những người cùng chơi quan họ trong vùng Kinh Bắc.
Cho đến nay, chưa có giả thuyết nào có sức thuyết phục tuyệt đối. Sự đa nghĩa ấy dường như cũng phản ánh chính bản chất linh hoạt, khó nắm bắt của loại hình nghệ thuật này.
Nghệ thuật trình diễn quan họ
Đặc trưng nổi bật của quan họ là hình thức hát đối đáp giao duyên giữa các bọn quan họ nam và nữ, thường gọi là liền anh và liền chị. Mỗi bọn thường gồm năm đến sáu người, có thể ít hơn hoặc nhiều hơn tùy từng làng và từng dịp. Liền anh và liền chị hát đối đáp qua lại, phản hồi nhau theo cùng một làn điệu nhưng bằng những lời ca khác nhau, tạo nên cuộc đối thoại bằng âm nhạc vừa tinh tế vừa mang tính nghi thức. Người hát không chỉ cần thuộc nhiều bài bản mà còn phải ứng biến linh hoạt để đối đáp phù hợp với bạn hát, qua đó bộc lộ trí tuệ, sự duyên dáng và khả năng cảm thụ nghệ thuật.

Lớp học hát quan họ. Ảnh: Nguyễn Mạnh Linh

Bộ ảnh “Quan họ Kinh Bắc với chùa Bút Tháp” đạt giải bộ hạng mục Di sản Văn hóa của giải thưởng nhiếp ảnh Heritage – Hành trình Di sản 2025. Ảnh: Nguyễn Trọng Hiếu
Trong đời sống âm nhạc đương đại, nhiều làn điệu đã trở thành hình ảnh quen thuộc khi nhắc đến quan họ Kinh Bắc, như Người ở đừng về, Cây trúc xinh, Se chỉ luồn kim, Mời nước mời trầu. Những bài hát này thường xuất hiện trong các cuộc hát canh truyền thống lẫn các chương trình nghệ thuật hiện đại, trở thành ký ức âm thanh tiêu biểu của vùng đất này. Một trong những không gian trình diễn tiêu biểu nhất là hội Lim, diễn ra hằng năm vào ngày 12 và 13 tháng Giêng âm lịch tại huyện Tiên Du, Bắc Ninh, nơi các liền anh liền chị hát giao duyên trên thuyền rồng giữa hồ hoặc tại các nhà chứa quan họ và trại hát truyền thống dựng khắp triền đồi. Hình ảnh những câu hát đối đáp ngân vang trong lễ hội Lim đã trở thành biểu tượng thị giác và âm thanh quen thuộc của quan họ trong đời sống đương đại.

Ảnh: Đại Đoàn kết

Ảnh: Vietnamplus
Trang phục giữ vai trò quan trọng trong nghệ thuật trình diễn. Liền anh chỉnh tề trong áo dài năm thân cổ đứng cùng khăn xếp, toát lên vẻ nho nhã và lịch lãm. Liền chị duyên dáng trong áo mớ ba mớ bảy, váy đen, khăn mỏ quạ và nón thúng quai thao. Những hình ảnh này đã trở thành biểu tượng thị giác đặc trưng của quan họ.
Về mặt âm nhạc, quan họ nổi tiếng với bốn kỹ thuật thanh nhạc cơ bản: nền, rền, vang, nảy, cùng các kỹ thuật rung, luyến, láy và ngân dài. Nghệ nhân chuyển đổi linh hoạt giữa các âm giai ngũ cung thông qua nhiều cách chuyển điệu khác nhau, tạo nên chiều sâu nghệ thuật và sự biến hóa phong phú cho từng làn điệu. Ca từ thường dựa trên chất liệu ca dao và thơ lục bát, kết hợp lời chính với các âm đệm như “i hi”, “ư hư” nhằm tạo nhịp điệu mềm mại, uyển chuyển. Nội dung bài hát xoay quanh tình cảm con người như nhớ thương, hẹn ước, gặp gỡ và chia xa, nhưng vượt lên trên tình yêu đôi lứa để hướng tới vẻ đẹp của sự đồng điệu tâm hồn và tình bạn văn hóa. Chính sự hòa quyện giữa kỹ thuật hát điêu luyện, ca từ tinh tế và nghi thức xã hội đã khiến quan họ trở thành một loại hình nghệ thuật trình diễn độc đáo, nơi âm thanh, con người và không gian cộng đồng gắn kết thành một chỉnh thể sống động.
Khi tiếng hát là sợi dây kết nối
Trong sinh hoạt truyền thống, bọn quan họ không đơn thuần là một nhóm hát mà là một đơn vị kết giao văn hóa mang tính cộng đồng sâu sắc. Mỗi làng quan họ đều có các bọn quan họ nam và bọn quan họ nữ riêng biệt, thường gồm khoảng năm đến sáu người. Đứng đầu mỗi bọn là ông trùm hay bà trùm – người gắn kết, dẫn dắt và duy trì toàn bộ sinh hoạt của bọn. Các thành viên thường cùng giới tính, cùng thế hệ và được lựa chọn dựa trên sự tương hợp về giọng hát, tính cách và lễ nghi ứng xử. Khi đã kết thành bọn, họ duy trì mối quan hệ lâu dài, cùng tham gia các cuộc hát và đại diện cho làng mình trong những dịp giao lưu. Quan hệ giữa các bọn quan họ của những làng khác nhau thường được thiết lập thông qua tục kết chạ, một hình thức kết nghĩa văn hóa giữa hai làng có tính chất truyền đời, tạo nên mạng lưới giao lưu bền vững kéo dài qua nhiều thế hệ.

Kết chạ là một hình thức kết nghĩa giữa hai hay nhiều làng với nhau. Một nguyên tắc quan trọng trong tục kết chạ là khi đã coi nhau như anh em thì không được kết duyên vợ chồng. Ảnh: Vietnam Découverte
Sinh hoạt quan họ truyền thống diễn ra dưới nhiều hình thức, trong đó hát canh là hình thức diễn xướng tiêu biểu nhất, thường được tổ chức giữa các nhóm quan họ kết nghĩa trong dịp hội làng. Một canh hát được chia thành ba chặng: mở đầu bằng những làn điệu cổ như Hừ La, La rằng, Tình tang; tiếp đến là chặng giữa với các bài giọng Vặt quen thuộc, là phần phong phú và kéo dài nhất của canh hát; và khép lại bằng chặng “giã bạn” đầy lưu luyến trước lúc chia tay. Về hình thức, quan họ chủ yếu hát theo lối đối đáp nam nữ: một bên cất câu hát, bên kia đáp lại bằng cùng làn điệu nhưng với lời ca tương ứng, tạo nên sự giao duyên tinh tế và giàu tính nghệ thuật.
Người dân xứ quan họ thường nói “chơi quan họ” thay vì “hát quan họ”, bởi mục đích không phải biểu diễn mà là chia sẻ tình bạn và thưởng thức nghệ thuật cùng nhau. Người tham gia xưng hô theo thứ bậc anh Hai, chị Ba, thay vì gọi tên thật, và tuân thủ những tục lệ như kết chạ, kết bạn hay ngủ bọn: tục hát cùng nhau thâu đêm tại nhà chứa và nghỉ lại nhà quan họ bạn, một hình thức giao lưu vừa thắm thiết vừa đầy lễ nghĩa. Quan họ còn gắn với nghi thức mời trầu, tiếp khách và những bữa cơm thanh đạm nhằm giữ giọng hát, phản ánh lối sống thanh lịch và chuẩn mực văn hóa đặc trưng của người Kinh Bắc.
Quan họ cổ và đương đại
Quan họ cổ là hình thức sinh hoạt truyền thống nguyên bản, chủ yếu không sử dụng nhạc đệm và thường diễn ra trong các dịp lễ hội, trước hết là hội xuân, đôi khi cả hội thu. Người hát đồng thời là người thưởng thức; không tồn tại ranh giới giữa người trình diễn và người thụ hưởng. Những làn điệu quan họ vẫn được lưu truyền qua nhiều thế hệ như ký ức âm nhạc của cộng đồng làng xã.
Các làng quan họ, phần lớn thờ thánh Tam Giang và phân bố dọc hai bờ sông Cầu, tạo nên mạng lưới văn hóa đặc biệt của vùng Kinh Bắc, nơi sinh hoạt quan họ được duy trì như một phần đời sống thường nhật. Theo truyền thống, một làng được công nhận là làng quan họ khi hội tụ nhiều yếu tố: có tục hát đối đáp lâu đời, có các bọn quan họ hoạt động ổn định, duy trì quan hệ kết chạ với làng bạn và tham gia sinh hoạt quan họ trong các lễ hội xuân. Nghệ thuật này vì thế không tồn tại như một loại hình biểu diễn rời rạc, mà gắn chặt với cấu trúc xã hội của làng xã. Danh xưng làng quan họ phản ánh cả một hệ thống quan hệ văn hóa, nghi lễ và ký ức cộng đồng được truyền nối qua nhiều thế hệ.

Tác phẩm điện ảnh kinh điển Đến hẹn lại lên (sản xuất năm 1974) do NSND Trần Vũ làm đạo diễn. Phim lấy bối cảnh làng quê quan họ Bắc Ninh trước năm 1945, khắc họa câu chuyện tình yêu đầy trắc trở nhưng kiên trung của liền chị Nết và liền anh Hai Chi. Ảnh: Tư liệu

Tranh dân gian Đông Hồ Hát Quan họ. Ảnh: Tư liệu

Ảnh: Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN)
Quan họ mới hình thành trong bối cảnh hiện đại khi loại hình này bước lên sân khấu biểu diễn và trở thành sản phẩm văn hóa phục vụ công chúng rộng rãi. Quan họ mới có khán giả rõ ràng, có nhạc đệm, có múa phụ họa và được trình diễn quanh năm trong lễ hội, hoạt động du lịch và các chương trình nghệ thuật. Nhiều bài hát truyền thống được chuyển soạn để phù hợp với sân khấu đương đại, giúp quan họ dễ tiếp cận công chúng trong và ngoài nước.

Ảnh: VOV
Kể từ khi được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009, quan họ bước vào giai đoạn phát triển mới với phạm vi hiện diện ngày càng mở rộng trong đời sống đương đại. Quá trình di sản hóa không chỉ mang lại cơ hội quảng bá và bảo tồn, mà đồng thời cũng đặt ra nhiều câu hỏi về cách gìn giữ bản sắc nguyên gốc. Khi không gian diễn xướng truyền thống dịch chuyển khỏi phạm vi làng xã để tiếp cận công chúng rộng rãi hơn, tính tương giao trực tiếp vốn là linh hồn của canh hát cũng đứng trước những biến đổi tất yếu.

Công trình Nhà hát Dân ca quan họ Bắc Ninh được Hội Kiến trúc sư Việt Nam trao giải bạc Giải thưởng Kiến trúc quốc gia lần thứ 15 (2022-2023), hạng mục kiến trúc công cộng. Mặt trước nhà hát là giàn mái thép uốn cong. Ảnh: VnExpress

Ảnh: VOV

Hệ thống đèn chùm cách điệu từ nón quai thao. Ảnh: VnExpress

Bên trong khán phòng nhà hát có 341 ghế gỗ đỏ (18 ghế to, 323 ghế nhỏ, 176 bàn nhỏ, 9 bàn to). Ảnh: VnExpress
Ở vùng Kinh Bắc có tổng số 49 làng quan họ gốc được công nhận, trong đó có 44 làng thuộc tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Bắc Giang). Đến nay, đĩa phương đã phát triển 329 làng thực hành quan họ, cho thấy sức sống bền bỉ và khả năng lan tỏa mạnh mẽ của di sản văn hóa này. Trong hành trình gìn giữ và lan tỏa giá trị ấy, Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh đóng vai trò quan trọng trong công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy nghệ thuật quan họ. Không chỉ là một đơn vị nghệ thuật, nhà hát còn trở thành biểu tượng kiến trúc văn hóa của khu vực.
Thực hiện: Vy Dương
Xem thêm:
Xiếc đương đại: Nghệ thuật kể chuyện bằng những cú bay