Làng tượng Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Nội), quanh năm đều nghe tiếng đục đẽo vang vọng như nhịp thở của một làng nghề đã hơn nghìn năm tồn tại. Gỗ mít xếp thành từng khối, mùi nhựa gỗ ngai ngái quyện mùi sơn ta và ánh thếp vàng, tạo nên sự khác lạ rõ nét so với các làng nghề khác. Từ nơi này, những pho tượng Phật, tượng Thánh, tượng Mẫu… đi khắp các đình, chùa, miếu, điện thờ… góp vào diện mạo nghệ thuật thờ tự Việt Nam thêm phong phú và đa dạng.

Nét uy nghi qua hình tượng Phật bà Quan Âm chùa Hội Hạ, thế kỷ 16, chất liệu gỗ phủ sơn.

Nét sinh động của hình tượng chú Tễu, thế kỷ 17, nhà sưu tập Tú Anh (TP.HCM).
Trong dòng chảy mỹ thuật truyền thống, tượng thờ là hình thái nghệ thuật đặc biệt. Khác với điêu khắc thuần túy trang trí, tượng thờ sinh ra từ nhu cầu tín ngưỡng. Vì thế, tác phẩm hoàn thiện không chỉ đòi hỏi kỹ năng tạo hình chính xác mà còn cần “thần” – thứ tinh thần vô hình được gửi gắm qua từng đường nét đục tỉa, từng lớp sơn son thếp vàng.

Tượng thờ chùa Tây Phương (thế kỷ 17), các chi tiết mũ mão, trang phục cùng thần thái được thể hiện đầy nghệ thuật.
Nguyên liệu làm tượng cũng mang dấu ấn bản địa rõ rệt. Gỗ mít – thứ gỗ mềm, ít nứt, bền với thời gian và có mùi thơm nhẹ – trở thành chất liệu chủ đạo. Trong quan niệm dân gian, gỗ mít gắn với sự sinh sôi, phúc lộc, đủ lớn, đủ khối để phù hợp tạo hình những nhân vật linh thiêng.

Các tượng tổ ở chùa Tây Phương với: “Mỗi người một vẻ mặt con người” – Huy Cận.
Chính chất liệu này giúp tượng Việt Nam có sắc độ ấm áp, không lạnh như đá, không quá cứng như kim loại, mà mang vẻ gần gũi với đời sống nông nghiệp lúa nước. Qua từng triều đại, tượng thờ biến đổi về thần thái, trang phục và tỷ lệ hình khối. Ở đó, người xem có thể “đọc” được lịch sử: từ nếp áo, kiểu mũ, dáng ngồi đến gương mặt hiền từ hay uy nghi.

Thời Lê Trung Hưng (1533 – 1789), tượng thờ Phật giáo đạt đến đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam.

Làng cổ Sơn Đồng, hơn 800 năm tuổi, là làng giữ nghề tạc tượng thờ lâu đời nhất Việt Nam.
Mỗi pho tượng giống như một trang sử bằng gỗ, phản ánh đời sống tinh thần, nghi lễ và mỹ cảm của cộng đồng đương thời. Trong không gian đình làng cổ xưa như Tây Đằng, đình Vũ Thạch, hay trong bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tượng thờ hiện lên như những nhân chứng lặng lẽ của một nền mỹ thuật gắn bó với dân gian. Ngày nay, nghệ thuật tượng thờ không dừng lại ở bảo tồn. Làng Sơn Đồng vẫn hoạt động sôi nổi, với hàng trăm nghệ nhân tiếp nối nghề tổ. Những xưởng mộc truyền thống kết hợp cùng tư duy thẩm mỹ đương đại sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phục dựng di sản, tạc mới tượng cho các không gian thờ tự, và cả cho sưu tập cá nhân. Trong sự chuyển động ấy, tinh thần cốt lõi của tượng thờ – sự trang nghiêm và chiều sâu tâm linh – vẫn được gìn giữ.

Tượng thờ được tạc từ gỗ mít đang trong giai đoạn hoàn thiện ở làng tượng Sơn Đồng.
Giữa nhịp sống hiện đại, khi nghệ thuật đương đại tìm đến chất liệu mới và hình thức mới, tượng thờ Việt Nam vẫn tồn tại như một dòng chảy bền bỉ. Nó không ồn ào, không phô trương, nhưng đủ sức neo giữ ký ức văn hóa. Nhìn vào những pho tượng cổ, ta không chỉ thấy bàn tay nghệ nhân mà còn thấy một xã hội, một tín ngưỡng, một hệ mỹ học được kết tinh qua thời gian.

Tiếp nối thế hệ, nghệ thuật tạc tượng ở Sơn Đồng qua hàng thế kỷ không hề mai một.
Có lẽ vì thế, tượng thờ không chỉ thuộc về nơi thờ tự, mà còn thuộc về lịch sử mỹ thuật Việt Nam – một lịch sử được kể bằng chất liệu gỗ mít, bằng sơn son thếp vàng, và bằng niềm tin lặng lẽ của những người thợ nghề trong thế giới linh thiêng.

Chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595 – 1660), thế kỷ 17, bảo vật quốc gia 2013.

Tiên nữ ở đình Tây Đằng, nét đẹp trong nghệ thuật điêu khắc tượng trang trí thời Mạc (1527 – 1683).

Tượng tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề tôn giả ở chùa Tây Phương, gương mặt hỉ hả, tay đang ngoáy tai, thần thái tinh anh, hóm hỉnh, dễ gần.
Người Việt giữ nghề Việt
Nghệ thuật tượng thờ, kỹ thuật chạm khắc, cùng những tỉ mỉ của cẩn ốc xà cừ, thếp vàng bạc là chuỗi nghề truyền thống lâu đời. sản phẩm tạo ra đều là niềm tự hào, ngưỡng mộ để người Việt thêm chuyên tâm giữ nghề Việt, cho hôm nay và cả mai sau.
Thực hiện chuyên đề: Nguyễn Đình
Xem thêm: