Hoa trà (tên tiếng Anh là Camellia) là loài hoa mang vẻ đẹp trang nhã và với sức sống bền bỉ, gắn liền với hành trình giao thoa văn hóa Đông – Tây suốt nhiều thế kỷ. Có nguồn gốc bản địa từ vùng Đông Á rộng lớn, trải dài qua Trung Quốc, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên và Đài Loan, loài hoa này từ lâu đã được trân trọng trong nghệ thuật cũng như đời sống tinh thần. Sắc màu rực rỡ, dáng vẻ thanh tao cùng khả năng nở rộ ngay cả trong tiết trời se lạnh từ mùa đông sang xuân đã khiến hoa trà trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn học, hội họa và tín ngưỡng xuyên suốt các thời kỳ lịch sử.

Ảnh: Tư liệu

Ảnh: Cathy DeWitt
Tên khoa học Camellia japonica mang trong mình một câu chuyện lịch sử thú vị. Vào thế kỷ 18, nhà phân loại học Carl Linnaeus đã đặt tên chi Camellia để vinh danh Georg Joseph Kamel, một linh mục, dược sĩ và nhà tự nhiên học người Séc. Điều đáng chú ý là Georg Kamel hoạt động chủ yếu tại Philippines và nhiều khả năng chưa từng được chiêm ngưỡng tận mắt loài hoa sau này mang tên mình. Tuy loài này có nguồn gốc từ cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản, phần tên loài “japonica” (tạm dịch: của Nhật Bản) được Carl đặt dựa trên những mô tả đầu tiên về nó tại Nhật Bản từ nhà thám hiểm Engelbert Kaempfer.

Ảnh: pbmGarden
Tại Việt Nam, thú chơi hoa trà từ lâu đã trở thành một nét văn hóa tinh tế, được thể hiện qua sự đa dạng phong phú của các giống quý. Trong số đó, nổi bật có Trà lựu với sắc đỏ thắm rực rỡ như châu ngọc, Bạch Trà tinh khôi thuần khiết, và Trà thâm (Bát diện) độc đáo với những lớp cánh kép xếp tầng chồng điệp. Từ các giống quý hiếm như Trà vàng (Kim Trà) cho đến Trà Cung đình (Hồng Trà), vốn là thú chơi ưa thích của hoàng gia ngày xưa. Mỗi loại đều toát lên một vẻ đẹp riêng biệt, mang đậm dấu ấn văn hóa thưởng hoa của người Việt.

Ảnh: Nova

Các giống hoa trà vàng, với sắc vàng quý hiếm, luôn là mục tiêu săn lùng của những người đam mê sưu tầm. Ảnh: 阿橋花譜 HQ Flower Guide
Trong văn hóa Á Đông, hoa trà gắn liền với sự thanh nhã, bền bỉ và những phẩm chất cao quý. Tại Nhật Bản, loài hoa này được gọi là Tsubaki (椿), nở từ mùa đông sang đầu xuân và hiện diện quen thuộc trong đời sống cũng như thẩm mỹ truyền thống. Việc hoa rụng nguyên bông khiến hoa thường được liên tưởng đến tinh thần samurai. Cùng với hoa anh đào và hoa mận, hoa trà là mô-típ phổ biến trong tranh vẽ, đồ thủ công và trang phục kimono, nổi bật bởi sắc màu rực rỡ và dáng vẻ thanh lịch.

Ảnh: Katherine English Flora
Ảnh: Ann Shelton

Bức tranh Hoa và Chim: Ông Lão Đầu Trắng với Hoa Trà của Ito Jakuchu miêu tả khoảnh khắc thoáng qua của một con chim đầu trắng đang bay về phía một bông hoa trà, bị thu hút bởi những giọt sương. Ảnh: PPS Press Agency

Bức họa Hoa trà và những chú chim nhỏ của Kawai Gyokudō. Ảnh: Aioi Nissay Dowa Insurance

Họa tiết hoa trà thường được sử dụng trên những chiếc rương mà các nhà tu khổ hạnh mang trên lưng để đựng tượng Phật, kinh sách và các vật dụng hàng ngày khi đi du hành. Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Suntory
Đáng chú ý, họa tiết hoa trà còn xuất hiện trong nghệ thuật chạm khắc Kamakura – kỹ thuật chạm gỗ đặc trưng của Nhật Bản, phát triển từ những ảnh hưởng du nhập từ Trung Quốc trong thời kỳ Muromachi. Tại đây, hoa thường được chạm khắc trên nhiều tác phẩm như biểu tượng của sự trường thọ và mùa xuân. Ngoài lĩnh vực nghệ thuật, hoa trà cũng được người Nhật trân trọng trong chăm sóc da và tóc, như một hình ảnh đại diện cho vẻ đẹp tự nhiên và tinh tế.

Hộp đựng bút chất liệu sơn mài từ thế kỷ 19, dùng để cất giữ bút lông và dụng cụ viết của tầng lớp trí thức Nhật Bản. Trên nền họa tiết lưới là hình hoa trà đang nở, được chạm khắc Kamakura với thân cây bằng bạc, hoa bằng vỏ sò và lá điểm bụi vàng bạc. Ảnh: Bảo tàng Quốc gia Tokyo

Hộp đựng hương có họa tiết hoa trà tráng men từ Hirota Matsushige. Ảnh: Bảo tàng Quốc gia Tokyo

Bát màu từ Hirota Matsushige. Ảnh: Bảo tàng Quốc gia Tokyo

Áo choàng Waifuku với họa tiết hoa trà và cây đứng trên nền vải gai trắng. Ảnh: Bảo tàng Quốc gia Tokyo
Tranh hoa trà Trung Quốc hình thành từ thời Đường, khi hoa trà bước vào không gian cung đình và tôn giáo, đồng thời hội họa hoa điểu dần trở thành một thể loại độc lập. Đến thời Ngũ Đại – Tống, tranh hoa trà đạt đỉnh cao với kỹ thuật tinh xảo, bố cục chặt chẽ và sự song hành giữa họa sĩ cung đình và văn nhân. Sang các triều Nguyên, Minh, Thanh, đề tài hoa trà chuyển dần sang lối vẽ thủy mặc và tự do, nhấn mạnh biểu đạt cảm xúc, kết hợp thơ – thư – họa để truyền tải tinh thần cá nhân. Trong thời hiện đại, hoa trà tiếp tục được tái diễn giải qua nhiều phong cách mới, trở thành phương tiện thể hiện bản sắc nghệ thuật và tinh thần thời đại.

Tranh Trẻ em chơi đùa trong mùa đông của Su Hanchen, thời nhà Tống. Ảnh: Sohu

Tác phẩm Hoa trà và lông vũ trắng của Lin Liang, thời nhà Minh. Ảnh: Sohu

Tranh Trà núi Bạch Mai của Zou Yigui, thời nhà Thanh. Ảnh: Sohu

Tranh Hoa trà của Chen Banding. Ảnh: Sohu
Khi du nhập sang phương Tây, hoa trà nhanh chóng trở thành biểu tượng của sự thanh lịch và sang trọng. Tuy nhiên, ý nghĩa của nó được định hình mạnh mẽ nhất qua tác phẩm văn học. La Dame aux Camélias (tạm dịch: Trà hoa nữ) của Alexandre Dumas con đã khắc họa hình ảnh nữ chính Marguerite Gautier luôn mang theo một bó hoa trà trắng. Trong tiểu thuyết, hoa trà trắng trở thành ẩn dụ phức tạp cho vẻ đẹp thuần khiết nhưng cũng đầy bí ẩn và sự mong manh, gắn liền với thân phận người phụ nữ. Hình tượng này sau đó còn được phổ biến hơn qua vở opera bất hủ La Traviata của Giuseppe Verdi.

Một bức tranh từ bộ sưu tập Choix des plus belles Fleurs của Pierre-Joseph Redouté. Ảnh: Oppenheimer Gallery

Bìa tác phẩm Trà hoa nữ. Ảnh: Alfons Mucha
Theo chính Gabrielle Bonheur Chanel, sau khi xem vở opera La Dame aux Camélias do Sarah Bernhardt thủ vai chính khi bà 13 tuổi, câu chuyện cảm động và sâu sắc đã lay động bà, khiến bà nhận xét câu chuyện của La Dame aux Camélias chính là cuộc đời mình. Từ đó, sự say mê của Chanel đối với hoa trà thể hiện rõ trong mọi thứ, từ thiết kế thời trang đến cuộc sống cá nhân của bà.

Coco Chanel tại Paris, năm 1937. Ảnh: Boris Lipnitzki/Roger-Violle

Ảnh: Chanel
Thực hiện: Vy Dương
Xem thêm: