Dọc trục thần đạo Hiếu Lăng | Về chốn cố kinh

Trong hệ thống lăng tẩm nhà Nguyễn, Hiếu Lăng nổi bật bởi cách không gian kiến trúc, thiên nhiên và tư tưởng Nho gia hợp thành một ngôn ngữ duy nhất.

Thời kì vua Gia Long trị vì là giai đoạn khai sáng vương triều, khi triều đình vừa trải qua những năm dài chinh chiến và đang bước vào giai đoạn tái lập bộ máy cai trị. Chính vì vậy, lăng tẩm của vị hoàng đế khai quốc cũng mang theo sự giản dị của buổi đầu dựng nghiệp. Sang thời Minh Mạng, đất nước đã đi vào guồng máy, triều đình có nguồn lực dồi dào hơn, nề nếp xã hội dần ổn định; vai trò của hoàng đế nhờ đó càng được củng cố, và lăng tẩm cũng được chú trọng xây dựng với quy mô bề thế hơn hẳn.

Minh Mạng (1791–1841) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1820 – 1841. Triều đại của ông được xem là đạt đến sự hoàn bị trong cai trị, từ củng cố bộ máy hành chính, mở rộng lãnh thổ đến chống ngoại xâm, khiến ông trở thành một trong những vị vua có uy quyền lớn nhất của triều Nguyễn. Kế thừa cơ nghiệp của hoàng đế Gia Long, ông đưa nhà Nguyễn lên đỉnh cao quyền lực. Giống như tiên đế, ngay sau khi lên ngôi, ông đã bắt đầu chọn nơi an nghỉ cho mình. Tư tưởng Nho gia thấm sâu vào cách ông kiến tạo không gian lăng tẩm, với bố cục đăng đối, trục thần đạo ngay thẳng, tất cả hợp thành một tổng thể kiến trúc vừa trang nghiêm, vừa là tấm gương phản chiếu cá tính và quyền uy của chính vị hoàng đế yên nghỉ nơi đây.

lang minh mang hieu lang kien truc di san hue

Lối vào Minh Lâu. Ảnh: Tư liệu

Lăng của hoàng đế Minh Mạng có tên là Hiếu Lăng (孝陵), tọa trên núi Cẩm Kê, sau được vua đổi tên thành Hiếu Sơn. Không gian bao quanh là vùng sơn thủy hữu tình, mang đặc trưng của lăng tẩm nhà Nguyễn, chú trọng sự dung hòa giữa kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên, tạo nên cảm giác trang nghiêm mà vẫn thanh tao.

lang minh mang di san kien truc van hoa hue

Toàn cảnh lăng Minh Mạng nhìn từ trên cao. Ảnh: Tư liệu

Mở đầu trục thần đạo là Đại Hồng Môn (大紅門) – cổng chính theo thể thức tam quan, cao hơn 9m và rộng 12m. Cổng trổ ba lối đi, với 24 lá mái lô nhô cao thấp, cửa giữa làm dạng chồng thiềm ba tầng, hai cửa hai bên mỗi cửa hai tầng, tạo nên tổng thể vừa thanh thoát trong đường nét, vừa vững chắc trong cách dùng vật liệu. Phần cổ diềm bên dưới trang trí bằng các ô hộc; trên nóc mái đắp nổi hoa văn họa tiết mang phong cách mỹ thuật giai đoạn đầu thời Nguyễn. Chính giữa cổng khắc ba chữ Nho “Đại Hồng Môn”. Cổng này chỉ mở đúng một lần để rước linh cữu hoàng đế vào lăng, rồi đóng kín mãi về sau. Người ra vào thường nhật sử dụng hai cổng phụ hai bên là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn. Qua Đại Hồng Môn là Bái Đình, sân rộng lát gạch Bát Tràng, hai bên bày hai hàng tượng quan văn võ, voi ngựa bằng đá đứng chầu nghiêm cẩn.

hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Đại Hồng Môn, được thiết kế theo dạng cổng xây dựng kiên cố bằng gạch, trổ ba cửa, cửa giữa cao nhứt. Đây là cổng chánh dẫn vô trục thần đạo của khu lăng.

Trục thần đạo dài hơn 700m là trục chính tổ chức toàn bộ không gian kiến trúc và cảnh quan của Hiếu Lăng. Từ Đại Hồng Môn, bước vào là Bái Đình – sân chầu rộng 45x45m, lát gạch Bát Tràng, hai bên bày hai hàng tượng đá đứng chầu, gồm quan Văn, quan Võ, Voi và Ngựa, là những thể thức điêu khắc đá đặc trưng trong lăng tẩm nhà Nguyễn.

Đối diện với Bái Đình là Phụng Thần Sơn, trên đỉnh đồi dựng Bi Đình, nơi đặt tấm bia “Thánh Đức Thần Công” ghi lại thân thế và sự nghiệp của hoàng đế Minh Mạng, do chính hoàng đế Thiệu Trị soạn văn để tưởng niệm vua cha.

Qua khu vực Bi Đình, những hàng bậc đá rộng rãi dẫn lên cổng chính vào khu tẩm điện Hiển Đức Môn (顯德門). Cổng được dựng theo kết cấu gỗ truyền thống theo thể thức thượng lâu hạ môn: phần dưới trổ ba cửa, phần trên vươn lên thành tầng lầu. Sơn son, lợp ngói lưu ly, Hiển Đức Môn mang vẻ đoan nghiêm mà không kém phần tráng lệ, xứng với vai trò ngưỡng cửa dẫn vào chốn thiêng liêng nhất của lăng.

hieu lang hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Bi Đình được thiết kế theo dạng phương đình với mặt bằng hình vuông, mái chồng, nằm trên đài cao.

Bước qua Hiển Đức Môn là sân tẩm và chính điện Sùng Ân (崇恩殿). Điện xây kiểu trùng thiềm điệp ốc, lợp ngói hoàng lưu ly, với mặt bằng 23,45m x 22,05m. Hai bên phía trước là Đông Phối Điện và Tây Phối Điện đối xứng nhau, lợp ngói lục lưu ly. Bên trong điện Sùng Ân thiết lập không gian thờ phụng hoàng đế Minh Mạng và Hoàng hậu, nội thất sơn son thếp vàng, trang hoàng theo đúng quy chế cung đình. Phía sau ngôi điện, hai bên là Tả Tòng Viện và Hữu Tòng Viện, cũng lợp ngói xanh, đăng đối theo trục chính. 

Cổng hậu khu tẩm điện là Hoằng Trạch Môn (弘澤門), là một cửa vòm xây bằng gạch, quy mô nhỏ hơn so với Hiển Đức Môn. Bước qua vòm cửa hẹp và đi xuống những bậc đá, phong cảnh hồ Trừng Minh (澄明湖) hiện ra trước mắt. Bắc qua hồ là ba cây cầu đá Tả Phù Kiều (左輔橋), Trung Đạo Kiều (中道橋) và Hữu Bật Kiều (右弼橋). Cầu giữa dành riêng cho hoàng đế, hai cầu bên dành cho tùy tùng. Qua khỏi hồ là tòa lầu Minh Lâu (明樓) với hai tầng tám mái vuông vắn, đặt trên đồi Tam Tài Sơn, soi bóng xuống mặt nước.

hieu lang hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Không gian kiến trúc cảnh quan bên trong khu vực Hiếu Lăng.

hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Điện Sùng Ân là chánh điện của khu vực lăng tẩm, thiết kế dạng trùng thiềm điệp ốc, mái ngói vàng, trên nóc đắp nổi hình ảnh rồng mây đầy mỹ thuật.

Phía sau Minh Lâu là hồ Tân Nguyệt (新月湖), mặt hồ uốn hình trăng non ôm lấy Bửu Thành, một bố cục mang ý nghĩa triết học sâu sắc: hồ là yếu tố Âm bao bọc, che chở cho yếu tố Dương là Bửu Thành, biểu tượng của mặt trời. Bắc ngang hồ là cầu Thông Minh Chính Trực (通明正直橋), dẫn tới Bửu Thành (寶城), nơi an nghỉ vĩnh cửu của hoàng đế. Bửu Thành có mặt bằng hình tròn, tường xây gạch cao 3,5m với chu vi 273m, bên trong là đồi thông phủ xanh Khải Trạch Sơn che phủ Huyền Cung, nơi mộ phần của nhà vua nằm sâu dưới lòng đất.

hieu lang hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Hoằng Trạch Môn, cổng hậu phía sau khu tẩm điện, qua khỏi cổng nầy dẫn đến Minh Lâu.

hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Minh Lâu được xây dựng trên đài cao, cấu trúc hai tầng tạo sự uy nghi cho công trình.

hieu lang hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Nghi môn dẫn qua cầu Thông Minh Chánh Trực, phía cuối trục là Bửu Thành.

hoang de minh mang 孝陵 trieu dai nha nguyen hue

Bửu Thành với vòng thành bao bọc bên ngoài, nơi đây cũng là nơi an nghỉ của hoàng đế.

Nhìn tổng thể, Hiếu Lăng là một quần thể kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao, kết tinh phong cách kiến trúc Việt Nam giai đoạn đầu triều Nguyễn, đặc biệt là giai đoạn cường thịnh của hoàng triều dưới thời Minh Mạng. Công trình không chỉ mang giá trị văn hóa và lịch sử, mà còn là minh chứng cho một triết lý xây dựng lăng tẩm riêng biệt, để kiến trúc hòa hợp với thiên nhiên, tận dụng cây xanh, mặt nước và địa hình đồi núi để biến nơi an nghỉ của đấng Thiên tử thành một khu vườn cổ điển Á Đông, nơi cõi thực và cõi vĩnh hằng giao thoa trong cùng một không gian.

Chuỗi bài Về chốn cố kinh là hành trình tìm về những công trình kiến trúc và mỹ thuật mang sắc màu văn hóa cố đô, từ những tòa thành quách tráng lệ, lăng miếu thâm nghiêm cho đến chùa chiền cổ kính rêu phong. Hơn cả những di sản vật thể, đây còn là những bức tranh đầy mỹ cảm, biểu hiện cho tư duy thẩm mỹ và chiều sâu tinh thần của người Việt trong giai đoạn thế kỷ XIX – XX, dẫn dắt chúng ta tìm về những sắc màu và tạo hình mang hơi thở truyền thống còn vang vọng đến tận hôm nay.

Bài và ảnh: Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính


Xem thêm: 

Thiên Thọ Lăng: Kiến trúc lăng tẩm giữa vành đai sơn hệ

Ngựa đá sân chầu: Uy nghiêm và khoan thai

Cổ phục triều Nguyễn và ngôn ngữ của quyền lực