Câu đối Tết: Chữ nghĩa đón xuân

Từ tín ngưỡng đến tôn vinh chữ nghĩa, câu đối Tết là kết quả của một quá trình lịch sử dài, phản ánh cách con người mở đầu năm mới bằng trật tự tinh thần.

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Trong ký ức Tết của người Việt, câu đối đỏ, bánh chưng, dưa hành là những dấu hiệu đặc trưng của mùa xuân. Hai cuộn giấy đỏ treo trước cửa nhà mang theo những lời chúc, những ước vọng được gửi gắm bằng chữ. Ở đó, chữ viết không còn là phương tiện ghi chép thuần túy, mà trở thành nơi con người đặt niềm tin vào một khởi đầu mới: phúc lành, an khang và tiếp nối bền lâu.

cau doi tet thu phap ong do doi lien xuan lien

Tết xưa ở Huế năm 1923. Ảnh: Sưu tầm

 

Ít ai ngờ rằng, trước khi trở thành những câu đối đỏ quen thuộc mỗi độ xuân về, thú chơi chữ mang đậm hơi thở văn hóa này từng khởi nguồn từ những tấm bùa gỗ đào trấn tà trong tín ngưỡng dân gian. Theo đó, hành trình hình thành của câu đối Tết phản ánh một chuyển biến quan trọng trong đời sống văn hóa Á Đông: khi con người dần dùng chữ để thay thế hình tượng thần linh, gọi tên ước vọng qua ngôn từ.

Từ đào phù đến câu đối Tết

Tiền thân xa xưa nhất của câu đối Tết không khởi nguồn từ văn học, mà từ một thực hành mang đậm màu sắc tín ngưỡng trong văn hóa Trung Hoa cổ đại. Từ thời nhà Chu, vào ngày mồng Một đầu năm, mỗi gia đình treo trước cửa hai tấm bùa bằng gỗ đào, gọi là đào phù. Trong quan niệm dân gian Á Đông, gỗ đào được tin là có khả năng trấn tà, xua đuổi điều dữ. Trên các tấm đào phù này, người ta khắc hoặc viết tên hai vị thần canh giữ cửa là Thần Đồ và Uất Lũy, với mục đích chế phục ác ma, trừ bỏ xui xẻo và bảo vệ không gian sống trong thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

thu phap ong do xuan lien

Đào phù vẽ hình Thần Đồ và Uất Lũy. Ảnh: Sưu tầm

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của chữ viết và tư duy văn hóa dựa trên chữ nghĩa, hình thức đào phù dần thay đổi. Từ chỗ mang chức năng trấn giữ bằng hình tượng và bùa chú, con người bắt đầu viết lên đó những dòng chữ ngắn mang ý nghĩa cát tường. Chính trong quá trình này, chữ viết từng bước thay thế hình tượng thần linh, trở thành phương tiện trực tiếp để con người gửi gắm niềm tin, ước vọng và lời chúc đầu năm.

cau doi tet thu phap ong do doi lien xuan lien

Đào phù với hình vẽ hung dữ và phần đáy sắc nhọn để có thể gắn vào cửa. Ảnh: Sưu tầm

Một dấu mốc quan trọng được nhắc đến trong Tống sử, phần ghi chép về lịch sử các triều đại tại vùng đất Thục (Tứ Xuyên) trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (thế kỷ X), Hậu Thục chủ Mạnh Sưởng đã lệnh cho học sĩ Chương Tốn viết lên tấm gỗ đào hai câu chúc Tết:

Tân niên nạp dư khánh

Gia tiết hiệu trường xuân

Dịch nghĩa Tiếng Việt: 

Năm mới thừa phúc lành  

Tết đẹp mãi trường xuân

Cặp câu này được xem là một trong những hình thức sớm nhất của câu đối với cấu trúc đối xứng rõ ràng. Từ đây, chức năng trấn tà của bùa chú dần nhường chỗ cho việc dùng chữ viết để diễn đạt ước vọng và lời chúc, mở ra tiền đề cho câu đối Tết như một thực hành văn hóa chữ nghĩa.

Từ thời Tống trở đi, việc viết câu đối vào dịp năm mới ngày càng trở nên phổ biến. Đến thời Minh, hình thức này chính thức được gọi là Xuân liên và phong tục treo câu đối Tết dần lan rộng trong đời sống xã hội, rồi truyền sang nhiều quốc gia Á Đông như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Tại Việt Nam, câu đối Tết được ghi nhận phổ biến từ thời Trần, không chỉ mang ý nghĩa cầu may mà còn thể hiện trí tuệ, học vấn và thú chơi chữ của người đề câu đối.

thu phap ong do xuan lien

Ảnh: Sưu tầm

cau doi tet thu phap ong do doi lien xuan lien

Từng câu chữ được đề trang trọng trên hoành phi(*) – câu đối trong cung điện, phủ đệ, đình chùa và từ đường trên khắp Việt Nam là minh chứng cho việc người Việt xem chữ nghĩa như biểu hiện cho trí tuệ và học vấn. Trong hình là hoành phi và bộ liễn đối trong Công thần miếu Vĩnh Long. Ảnh: Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính

(*) Hoành phi là tấm bảng ngang, ghi chữ Hán/Nôm hoặc tiếng Việt thư pháp, ca tụng công đức, thường treo nghiêng về phía trước để tăng sự trang nghiêm. Câu đối là hai câu thơ đối xứng treo dọc theo cột, thường có nội dung ca tụng, thể hiện đạo lý hiếu kính. 

Nguyên tắc của câu đối Tết

Câu đối, xét về bản chất, là một cấu trúc ngôn ngữ có tính quy phạm cao, sở hữu những nguyên tắc chặt chẽ về đối ý, đối chữ, đối thanh và đối loại, nhằm tạo nên sự cân xứng hoàn chỉnh giữa hai vế. Chính những ràng buộc này khiến câu đối trở thành một hình thức biểu đạt cô đọng, nơi mỗi chữ đều phải đứng đúng vị trí của nó.

Trước hết, hai vế câu đối phải đối ý, tức là ý nghĩa của mỗi vế không trùng lặp mà bổ sung, cân xứng hoặc soi chiếu lẫn nhau. Ý đối không nhất thiết là đối lập hoàn toàn, mà có thể là tương ứng theo cặp khái niệm: trời – đất, năm – xuân, gia đình – con người, phúc – lộc. Sự cân bằng về ý tạo nên chiều sâu tư tưởng cho câu đối.

Tiếp đó là đối chữ, thể hiện ở việc mỗi từ trong vế này phải tìm được vị trí tương ứng trong vế kia. Danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, thực tự (**) đối với thực tự, hư tự đối với hư tự. Đồng thời, nếu một vế dùng chữ Hán, vế còn lại cũng phải dùng chữ Hán. Đây là yếu tố làm nên tính “đối” về mặt hình thức, khiến người đề chữ không thể tùy tiện trong cách dùng từ.

(**)Trong luật đối, thực tự là những chữ mang ý nghĩa cụ thể, giữ vai trò chính trong việc biểu đạt nội dung (như trời, đất, xuân, phúc, người, đến); còn hư tự là những chữ có chức năng liên kết hoặc hỗ trợ cấu trúc câu, không mang ý nghĩa độc lập. Khi đối câu, thực tự phải đối với thực tự, hư tự phải đối với hư tự, nhằm bảo đảm sự cân xứng về chức năng ngôn ngữ giữa hai vế.  

thu phap ong do xuan lien

Ảnh: Sưu tầm

Quan trọng không kém là đối thanh, hay còn gọi là luật bằng – trắc. Các chữ ở vị trí tương ứng trong hai vế phải có thanh đối nhau, đặc biệt là chữ cuối mỗi vế. Chính sự đối thanh này tạo nên nhịp điệu đặc trưng cho câu đối, khiến người đọc không chỉ hiểu mà còn nghe được cái hay của chữ nghĩa.

Về số chữ, câu đối không bị giới hạn cứng nhắc, nhưng thường gặp các thể như tiểu đối (dưới bốn hoặc năm chữ), câu đối thơ (theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn) và câu đối phú với cấu trúc phức tạp hơn. Dù ở thể nào, yêu cầu cân xứng giữa hai vế vẫn là nguyên tắc bất biến.

Về hình thức, câu đối Tết thường được viết bằng mực đen, hay còn gọi là mực tàu trên giấy đỏ hoặc hồng điều, nhưng cũng có nhiều biến thể tinh tế hơn với chữ kim nhũ vàng óng ánh hoặc bản thân tờ giấy đỏ được dát vàng lốm đốm, tạo nên mặt chữ rực rỡ dưới nắng xuân.

Sự hội tụ đồng thời của tư tưởng, cấu trúc và âm luật trong câu đối đòi hỏi người đề chữ phải có nền tảng học vấn vững vàng và cảm quan ngôn ngữ tinh tế. Đó cũng là lý do vì sao người xưa xem câu đối như hình thức tinh luyện nhất của nghệ thuật chữ viết. 

cau doi tet thu phap ong do doi lien xuan lien

Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa. Ảnh: Sưu tầm

Những nội dung thường được viết trong câu đối ngày xuân

Trong văn học truyền thống, câu đối được sử dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau, với nội dung và sắc thái đa dạng. Tuy nhiên, khi bước vào đời sống dân gian và gắn với không khí Tết, câu đối dần được tinh giản theo những nhu cầu tinh thần phổ quát hơn. Những nội dung phức tạp nhường chỗ cho các cặp giá trị cốt lõi của đời sống gia đình và cộng đồng như: phúc – lộc, an – hòa, xuân – thọ.

thu phap ong do xuan lien

Dù được giản lược về ý niệm, câu đối Tết vẫn đáp ứng những nguyên tắc cơ bản của luật đối, để chữ nghĩa không chỉ là lời chúc, mà còn là một hình thức văn hóa được chắt lọc và trân trọng. Ảnh: Sưu tầm

Phúc – Lộc: Ước mong đủ đầy và thuận lợi

Trong tư duy của người Á Đông, phúc và lộc thường đi cùng nhau như hai điều kiện cần thiết để đời sống được hanh thông. Phúc gắn với sự may mắn và an lành, lộc gắn với sinh kế và cơ hội. Câu đối Tết mang nội dung này không chỉ phản ánh khát vọng đủ đầy, mà còn thể hiện quan niệm coi sự sung túc phải đi liền với trật tự và chính danh.

Ví dụ một câu đối phổ biến, đại diện cho quan niệm này là:

Xuân mãn càn khôn phúc mãn môn
Niên phong tuế nhẫm nhân phong lạc

Dịch nghĩa tiếng Việt:

Mùa xuân tràn khắp trời đất, phúc đầy trong mỗi cửa nhà
Năm tháng được mùa, con người hưởng niềm vui đủ đầy

Cặp câu này đối xứng cả về ý nghĩa lẫn hình thức: xuân đối với năm; trời đất đối với con người; phúc đối với niềm vui, an lạc. Cấu trúc thất ngôn cùng luật đối thanh tạo nên cảm giác viên mãn, rất phù hợp để khởi đầu năm mới.

cau doi tet thu phap ong do doi lien xuan lien

Ảnh: Sưu tầm

An – Hòa: Khát vọng bình yên và ổn định

Nếu phúc lộc hướng đến sự đủ đầy, thì an và hòa lại phản ánh mong muốn sâu xa hơn của con người là được sống trong trạng thái ổn định, hài hòa. Trong xã hội truyền thống, nơi những biến động luôn hiện hữu, bình an được xem là nền tảng để mọi điều tốt đẹp có thể sinh sôi.

Câu đối tiêu biểu đại diện cho quan niệm này là:

Gia hòa vạn sự hưng
Môn thuận bách phúc chí

Dịch nghĩa tiếng Việt:

Nhà cửa hòa thuận thì mọi việc đều hưng thịnh
Cửa nhà an ổn thì trăm điều phúc lành kéo đến

Câu đối ngắn gọn nhưng chặt chẽ, thể hiện mối quan hệ nhân – quả quen thuộc trong tư duy của người Á Đông: hòa khí là điều kiện để phúc bền lâu.

thu phap ong do xuan lien

Ảnh: Sưu tầm

Xuân – Thọ: Thời gian và sự tiếp nối

Xuân không chỉ là một mùa trong năm mà còn là biểu tượng của sự khởi đầu và sinh sôi. Khi kết hợp với thọ, nội dung câu đối thường mở rộng từ khoảnh khắc hiện tại sang chiều dài của thời gian, gửi gắm mong ước về sự tiếp nối bền vững của đời sống và gia đình.

Xuân đáo bách hoa khai phú quý
Thọ trường vạn sự hưởng an khang

Dịch nghĩa tiếng Việt:

Xuân về trăm hoa nở, mở ra phú quý
Tuổi thọ dài lâu, muôn việc đều an khang

cau doi tet thu phap ong do doi lien xuan lien

Ảnh: Sưu tầm

Gia đạo – Nhân luân: Trật tự và đạo làm người

Một nhóm nội dung quan trọng khác của câu đối Tết là gia đạo và nhân luân. Trong tư duy Nho giáo, gia đình là nền tảng của xã hội và sự hưng thịnh của gia đạo gắn liền với việc gìn giữ đạo lý giữa các thế hệ. Vậy nên, câu đối thường là lời nhắc nhở về trách nhiệm tiếp nối của các thế hệ, đặt đạo làm người song hành cùng phúc lành.

Cụ thể:

Tổ đức lưu phương thiên tải thịnh
Tôn hiền kế chí vạn niên xương

Dịch nghĩa tiếng Việt:

Đức tổ tiên lưu lại tiếng thơm, thịnh vượng muôn đời
Con cháu hiền tài nối chí, hưng thịnh mãi về sau

thu phap ong do xuan lien

Ảnh: Sưu tầm

Việc các nội dung như phúc, lộc, an, hòa, xuân, gia đạo liên tục xuất hiện trên câu đối Tết qua nhiều thế hệ cho thấy xã hội xem phong tục này như một hình thức lưu giữ những giá trị cốt lõi nhất của đời sống. Mỗi năm treo câu đối với hình thức và ngữ nghĩa đối xứng chặt chẽ, con người không chỉ chúc cho năm mới, mà còn lặp lại một hệ giá trị đã được xã hội lựa chọn và gìn giữ.

viet lien cau doi ong cau cho lon

Ông Cầu-Nghệ nhân viết liễn tại khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn. Ảnh: Dân Trí

Thực hiện: Thùy Như


Xem thêm: 

Tết đến ngắm nhìn đồ án trái cây

Thư pháp: Từ con chữ đến giá trị tinh thần

Ông đồ: Lớp người bên lề đến biểu tượng văn hóa