Nghi lễ thờ Cá Ông của ngư dân vùng duyên hải

Trên nhiều hòn đảo và làng chài ven biển Việt Nam, tục thờ Cá Ông là một tín ngưỡng dân gian quan trọng, biểu hiện qua hệ thống nghi lễ được tổ chức chặt chẽ qua nhiều thế hệ. 

Trời vừa rạng, trên bến cảng, mặt biển còn phủ một lớp sương mỏng, nhưng không khí đã dậy lên bởi tiếng trống lệnh dồn dập. Cờ ngũ sắc kéo dài từ lăng Ông xuống tận cầu cảng, quấn quanh mũi những chiếc tàu cá vừa được lau rửa bóng loáng. Hương khói nghi ngút trong chính điện; ngoài bến, đàn ông mặc áo dài khăn đóng đứng thành hàng, tay nâng lễ phẩm, mắt hướng ra khơi như chờ một hiệu lệnh vô hình. Khi chiếc thuyền dẫn lễ tách bến, mang theo bài vị và hương án, những con tàu phía sau đồng loạt nổ máy. Âm thanh động cơ hòa với tiếng còi kéo dài, dội vào vách đá của biển đảo rồi bật ngược trở lại, tạo thành một tầng âm vang dày và sâu. Đoàn thuyền rước tiến ra biển. Không có sân khấu dựng sẵn, không có khán đài cố định, toàn bộ không gian đảo và biển trở thành phông nền cho nghi lễ.

le nghinh ong than nam hai nui thanh quang nam

Nghi lễ rước thần Nam Hải nhập lăng trong lễ cầu ngư của làng chài Tam Hải, Núi Thành. Ảnh: H.Quang

Đó là Lễ Nghinh Ông – một trong những thời khắc quan trọng nhất trong năm của cộng đồng ngư dân các vùng biển đảo. Lễ hội ở đây không thua kém bất kỳ sự kiện lớn nào trên đất liền về quy mô hay mức độ trang nghiêm. Giữa bốn bề sóng nước, nơi mỗi chuyến ra khơi đều là một canh bạc với thời tiết và dòng chảy, niềm tin vào Cá Ông không chỉ là phong tục. Trên những hòn đảo và các vùng ven biển Việt Nam, tục thờ Cá Ông là cách con người định nghĩa sự che chở giữa đại dương, hình thành nên một hệ thống tín ngưỡng biển độc đáo kéo dài suốt nhiều thế kỷ.

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Ảnh: Sưu tầm

Nền tảng sinh thái và kinh nghiệm ngư dân vùng biển đảo

Cá voi, đặc biệt là cá voi lưng gù (Megaptera novaeangliae) và cá voi Bryde (Balaenoptera edeni), từng xuất hiện tương đối thường xuyên tại vùng biển Trung Bộ. Đây là những loài có tập tính nổi gần mặt nước để hô hấp, điều hướng và kiếm ăn theo dòng hải lưu. Trong bối cảnh những con thuyền gỗ nhỏ, trọng tải thấp và không có thiết bị định vị hiện đại, việc một sinh vật khổng lồ nổi sát mạn thuyền giữa biển động là một ấn tượng thị giác và tâm lý đặc biệt mạnh. Sự hiện diện ấy, dù chỉ trong khoảnh khắc, có thể làm thay đổi cảm nhận của người đi biển về mức độ cô lập giữa đại dương.

Có thể dùng khoa học để lý giải phần nào nguyên nhân tàu thuyền và cá voi thường xuất hiện đồng thời trong những thời điểm giông tố. Khi áp suất khí quyển thay đổi đột ngột và sóng lớn hình thành, dòng chảy ven bờ có thể bị xáo trộn, đẩy cá voi tiến vào gần vùng nước nông hoặc lệch khỏi hành trình thông thường. Không ít trường hợp cá voi bị mắc cạn sau bão cho thấy chúng cũng chịu tác động trực tiếp từ biến động thời tiết.

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Bộ xương cá voi trong Lăng Ông Nam Hải, thuộc Khu du lịch Hòn Đá Bạc ở xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên

Bên cạnh đó, trên thân cá voi thường có cá ép (remora) bám ký sinh. Những chuyển động song hành với tàu thuyền hoặc việc tiếp cận các vật thể lớn giữa sóng mạnh có thể giúp chúng cọ xát, giảm bớt ký sinh bám trên da. Sự tương tác tưởng chừng ngẫu nhiên này, lặp lại qua nhiều hải trình, tạo nên niềm tin về sự nâng đỡ lẫn nhau giữa cá voi và thuyền.

Điều đáng chú ý là tín ngưỡng này không xuất phát từ huyền thoại trừu tượng, mà từ sự giao thoa giữa quan sát sinh thái và nhu cầu tâm lý. Khoa học có thể lý giải cơ chế khiến cá voi xuất hiện gần tàu thuyền trong điều kiện thời tiết cực đoan, nhưng chính cách cộng đồng ngư dân vùng biển đảo diễn giải hiện tượng ấy mới tạo nên Cá Ông như một vị thần. 

Từ tín ngưỡng dân gian biển đảo đến thiết chế nhà nước

Từ cuối thế kỷ XVIII sang thế kỷ XIX, khi các chúa Nguyễn đánh thắng chúa Trịnh và lập nên nhà Nguyễn, xác lập quyền lực dọc duyên hải miền Trung và mở rộng kiểm soát biển Đông, hệ thống thần linh bản địa cũng được tái cấu trúc trong một trật tự mới. Trong tiến trình đó, tín ngưỡng thờ cá Ông được chính thức sắc phong với danh hiệu “Nam Hải Đại Tướng Quân” – một tước hiệu mang tính quân sự và bảo hộ, đặt sinh thể của đại dương vào cùng hệ quy chiếu với các vị thần hộ quốc khác.

Việc sắc phong không đơn thuần là công nhận niềm tin dân gian, mà là một hành động chính trị – văn hóa. Khi triều đình ban sắc, cá Ông được tích hợp vào hệ thống thần linh chính thống, có thứ bậc, danh xưng, và ngày tế lễ quy định. Tại những trung tâm quyền lực như Huế hay các địa phương trọng yếu về quân sự và hàng hải như Bình Định, nhiều đạo sắc phong còn được lưu giữ đến nay. Trong bối cảnh đó, cá Ông trở thành biểu tượng bảo hộ cho không gian biển thuộc chủ quyền vương triều. Việc phong tước Đại Tướng Quân cho một sinh thể của đại dương phản ánh cách triều Nguyễn nhìn nhận biển không chỉ như nguồn lợi kinh tế, mà như một biên giới chiến lược cần được thần linh hóa và bảo vệ về mặt biểu tượng. Tục thờ Cá Ông, vì thế, vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng duyên hải, vừa củng cố trật tự chính trị và ý niệm chủ quyền.

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Lăng Ông Nam Hải, Gành Hào – Bạc Liêu. Ảnh: Huỳnh Hải

Những nghi lễ trọng yếu trong tục thờ Cá Ông

Tục thờ Cá Ông không tồn tại dưới dạng một nghi thức đơn lẻ, mà được duy trì bằng một hệ thống lễ nghi kéo dài suốt năm, đan xen giữa những sự kiện định sẵn và những tình huống phát sinh. Trong đó, ba thực hành quan trọng nhất là Lễ Nghinh Ông, Lễ Cầu Ngư và nghi thức Ông lụy.

1. Lễ Nghinh Ông: Nghi thức rước thần ra biển

Thời gian tổ chức ngày lễ này khác nhau theo từng địa phương, phản ánh mỗi nơi có những chu kỳ nghề biển và tín ngưỡng dân gian riêng. Chẳng hạn, ở Vũng Tàu, Lễ Nghinh Ông Thắng Tam truyền thống được tổ chức vào khoảng giữa tháng 8 âm lịch (15-18/8 âm lịch). 

Trong khi đó, tại Cần Giờ – nơi lễ Nghinh Ông cũng đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, nghi lễ thường diễn ra trong ba ngày đầu tháng 10 dương lịch (tức khoảng đầu tháng 8 âm lịch) với các hoạt động giao thương, thể thao và sinh hoạt cộng đồng đồng hành cùng nghi lễ chính. 

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Lễ Nghinh Ông. Ảnh: Bùi Văn Hải

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Lễ Nghinh Ông. Ảnh: Sưu tầm

Ở miền Tây Nam Bộ như Sông Đốc, lễ Nghinh Ông lại được tổ chức vào giữa tháng 2 âm lịch hằng năm, gắn liền với lịch mùa biển và truyền thống địa phương. Bên cạnh đó, nhiều địa phương miền Trung như Quảng Bình hay Đà Nẵng lại duy trì Lễ Nghinh Ông vào rằm tháng Giêng âm lịch hoặc các khoảng đầu năm, phần lễ trang nghiêm được kết hợp với phần hội có hát bả trạo, múa bội và các trò chơi dân gian. 

Sự khác biệt về thời điểm tổ chức các nghi lễ này bắt nguồn từ nhiều yếu tố: chu kỳ nghề cá địa phương (khi ngư dân ra khơi nhiều nhất), điều kiện khí hậu – thời tiết, đặc trưng thủy triều và cả lịch nông – thủy sản truyền thống của cộng đồng. Chẳng hạn, mùa biển chính ở miền Trung thường rơi vào giữa năm nên Nghinh Ông được tổ chức vào cuối hè; còn ở miền Tây Nam Bộ, chu kỳ khai thác và tín ngưỡng lại gắn chặt với đầu năm âm lịch và Tết Nguyên đán. 

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Lễ Nghinh Ông. Ảnh: Bùi Văn Hải

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Lễ Nghinh Ông. Ảnh: Bùi Văn Hải

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Lễ Nghinh Ông. Ảnh: Bùi Văn Hải

Dù thời điểm tổ chức có thể khác nhau, song, cấu trúc nghi lễ Nghinh Ông nhìn chung khá thống nhất. Lễ thường kéo dài hai đến ba ngày, với trung tâm là nghi thức cung nghinh bài vị Nam Hải Đại Tướng Quân từ lăng xuống thuyền. Đoàn thuyền, được trang trí cờ ngũ sắc và các biểu tượng sóng nước, tiến ra khơi một quãng nhất định để thực hiện nghi thức dâng hương giữa biển. Sau đó, đoàn thuyền quay về bờ trong nghi thức nhập điện trang trọng.

Song song với phần rước trên biển, phần lễ tế tại lăng diễn ra theo trình tự nghiêm cẩn của tế lễ truyền thống, gồm chánh bái, đông hiến – tây hiến và đọc văn tế. Lễ vật thường bao gồm heo quay, xôi, rượu, trầu cau và hoa quả, phản ánh cấu trúc hiến tế quen thuộc trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Chính sự lặp lại ổn định của các bước nghi lễ này qua nhiều thế hệ đã tạo nên một khung nghi thức tương đối đồng dạng, bất kể địa phương tổ chức vào tháng nào trong năm.

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Do đặc thù địa lý, lăng Ông trên đảo thường được đặt ở vị trí cao, hướng biển, giúp tránh ngập và dễ nhận diện từ xa. Không gian này không chỉ dành cho thờ tự mà còn đóng vai trò như một trung tâm sinh của cộng đồng ngư dân biển đảo: nơi họp bàn việc ra khơi, phân chia mùa vụ, tổ chức lễ Kỳ Yên hoặc lễ Cầu Ngư. Ảnh: Lăng Ông Nam Hải tại Cà Mau, chụp bởi Văn Chương.

Trong cấu trúc tín ngưỡng, Nghinh Ông không chỉ là một hành vi thờ cúng mà được xem là hành động chủ động của cộng đồng. Việc rước thần ra biển rồi cung nghinh trở lại lăng hàm ý rằng con người tự mình thiết lập lại trật tự thiêng trước khi bước vào chu kỳ lao động cao điểm. 

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Phần hội được tổ chức bởi Lăng Ông Nam Hải đảo Phú Quốc. Ảnh: Sưu tầm

2. Lễ Cầu Ngư: Tái cấu trúc tập thể trước mùa đánh bắt

Lễ Cầu Ngư là một trong những nghi lễ trọng yếu đi kèm trong hệ thống tín ngưỡng thờ Cá Ông của cư dân ven biển và hải đảo Việt Nam. Khác với lễ Nghinh Ông thường diễn ra vào tháng giữa mùa hè, lễ Cầu Ngư kéo dài theo chu kỳ đầu năm: bắt đầu ngay sau Tết Âm lịch và thường rơi vào khoảng tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch tại nhiều địa phương miền Trung và miền Bắc. 

Điển hình như ở Đà Nẵng, các cộng đồng nghề cá như làng Thọ Quang tổ chức Lễ Cầu Ngư vào khoảng ngày 14-16 tháng Giêng âm lịch, gắn với tế lễ tại lăng Ông và các nghi thức đặc trưng như lễ rước Nam Hải Thượng Đẳng Thần ra khu vực bờ biển để dâng hương và cầu nguyện. Tại Huế, lễ được tổ chức ba năm một lần ở làng Thai Dương vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch, phản ánh sự linh hoạt theo truyền thống địa phương. 

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Lễ Cầu Ngư. Ảnh: Bá Cường

Ở Nha Trang, Lễ Cầu Ngư thường diễn ra khoảng tháng 2-3 âm lịch, kéo dài từ 3 ngày 3 đêm, bắt đầu bằng nghi thức rước sắc phong, tiếp tục với lễ Nghinh Ông tại biển và các hoạt động văn hóa dân gian như hát Bả Trạo (một loại diễn xướng dân gian), lễ Tinh Sanh (lễ cúng các thần tự nhiên, xuất hiện trong một số tư liệu về lễ hội ở Khánh Hòa) và lễ Tế Chánh (tri ân Ông Nam Hải). 

Phần lễ trong Lễ Cầu Ngư bắt đầu với các nghi thức ở lăng Ông hoặc đền thờ Nam Hải, nơi ngư dân chuẩn bị lễ vật và phong tục tế tự. Sau phần lễ trang nghiêm, nhiều địa phương tổ chức các hoạt động cộng đồng phong phú, chẳng hạn: kéo co, đua thuyền thúng và trình diễn nghệ thuật truyền thống như múa lân, hát Bả Trạo. Ở Thanh Hoá, lễ hội Cầu Ngư tại xã Ngư Lộc còn được kết hợp thêm hoạt động diễu hành kiệu rước và các trò chơi dân gian. 

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Phần lễ. Ảnh: Bá Cường

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Phần lễ. Ảnh: Bá Cường

Lễ Cầu Ngư không chỉ là nghi thức cầu xin điều kiện thời tiết thuận hòa và mùa biển tươi tốt mà còn phản ánh khát vọng đoàn kết và an toàn của cộng đồng ngư dân biển đảo. Nó là dịp để ngư dân cùng gia đình và cư dân địa phương tụ họp, trao đổi kinh nghiệm nghề biển, củng cố tinh thần cộng đồng và chuyển giao các biểu tượng văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ mối quan hệ giữa con người và biển cả đến sự gắn bó với các giá trị làng xã và truyền thống tín ngưỡng biển sâu rộng. 

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Phần hội. Ảnh: Bá Cường

3. Nghi thức Ông lụy: Chuyển hóa sinh thể biển thành đối tượng thờ phụng

Theo tục lệ, khi cá voi dạt vào bờ – dân gian gọi là Ông luỵ bờ, người đầu tiên phát hiện có trách nhiệm đứng ra lo liệu việc hậu sự và để tang Ông như chính cha mẹ mình. Đi kèm với trách nhiệm là quyền lợi và sự tự hào không gì sánh bằng, vào thời nhà Nguyễn, người phát hiện xác Ông được cộng đồng tôn kính và miễn sưu dịch ba năm.

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Bộ cốt cá voi trong dinh Vạn Thủy Tú ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam. Hiện nay, đây là bộ cốt cá voi lớn nhất Việt Nam và cả vùng Đông Nam Á vẫn còn nguyên vẹn (dài 22m, nặng 65 tấn). Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên

Nghi thức tang lễ dành cho cá Ông được tiến hành tương tự tang lễ của con người. Xác cá được tắm bằng rượu, liệm trong vải đỏ, sau đó an táng tại đụn cát gần biển. Một số tập tục dân gian còn ghi nhận việc dùng giấy đỏ thấm nước dãi cá, phơi khô rồi đốt thành tro làm thuốc trị hen suyễn. Hằng năm, dân làng lấy đúng ngày Ông luỵ làm ngày giỗ và tổ chức cúng theo nghi thức tương tự lễ Nghinh Ông. Câu nói “Thấy Ông vào làng như vàng vào tủ” cho thấy quan niệm phổ biến rằng việc cá Ông dạt vào bờ là điềm lành, báo hiệu sự che chở và mùa biển thuận lợi.

Sau ba đến bốn năm, cộng đồng tiến hành cải táng. Thời điểm được chọn thường rơi vào mùa xuân – đầu hè, khi thời tiết thuận lợi. Với cá lớn, người ta chờ đủ ba năm để phần thịt tiêu rã hoàn toàn rồi mới thu nhặt xương, đưa vào quách và nhập lăng để thờ chung. Trường hợp cá nhỏ có thể được đặt trực tiếp vào hòm và đưa về lăng sớm hơn. Từ thời điểm nhập lăng, cá Ông chính thức trở thành một phần của không gian thờ tự tập thể, được phối thờ cùng các vị tiền hiền và tại nhiều nơi, cá Ông còn được thờ cùng các vong linh ngư dân tử nạn ngoài biển.

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Ảnh: Bá Cường

Tục thờ Cá Ông trong khung pháp lý hiện đại

Trong bối cảnh hiện nay, cá voi không chỉ là đối tượng của tín ngưỡng dân gian mà còn thuộc nhóm sinh vật biển được pháp luật bảo vệ. Theo Luật Thủy sản 2017 và các nghị định hướng dẫn thi hành, nhiều loài cá voi được xếp vào danh mục cần quản lý, bảo tồn nghiêm ngặt. Điều này đặt nghi thức Ông lụy vào một bối cảnh mới: mỗi trường hợp cá voi mắc cạn hoặc tử vong ven bờ không còn là vấn đề nội bộ của làng chài, mà cần thông báo và phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng kiểm ngư hoặc cơ quan chuyên môn về bảo tồn biển.

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Xương cá voi bên trong Đình Thần Thắng Tam tại Vũng Tàu. Ảnh: BrightRaven

Trên thực tế, khi xảy ra hiện tượng cá voi dạt vào bờ, quy trình hiện đại thường song hành hai tầng xử lý. Tầng thứ nhất là nghiệp vụ: xác định tình trạng sinh học (còn sống hay đã chết), nguyên nhân mắc cạn (nếu có thể), đánh giá nguy cơ môi trường và phương án xử lý phù hợp. Tầng thứ hai là nghi lễ cộng đồng: lập hương án, tổ chức tang lễ và an táng theo tập quán. Hai tầng này không loại trừ nhau, nhưng đòi hỏi sự điều chỉnh để đảm bảo vừa tuân thủ quy định bảo tồn, vừa duy trì tính liên tục văn hóa.

Trong một số trường hợp, việc di dời xác, cải táng hoặc đưa bộ xương vào lăng có thể cần sự chấp thuận của chính quyền nhằm đảm bảo không vi phạm quy định về quản lý động vật hoang dã. Điều này tạo ra một tình huống đáng chú ý về mặt xã hội học: tín ngưỡng dân gian không bị xóa bỏ, nhưng được đặt trong khung pháp lý hiện đại phù hợp, nơi các yếu tố môi trường, khoa học và hành chính cùng tham gia vào quá trình ra quyết định. 

tuc tho ca ong viet nam nam hai dai tuong quan

Xác cá nhám voi được Viện Hải dương học Nha Trang ướp bảo quản, lấy da nhồi bông và trưng bày tại Lăng Ông Nam Hải Gành Hào – Bạc Liêu. Ảnh: Huỳnh Hải

Ở nhiều vùng ven biển và các đảo, nghi lễ gắn với tục thờ Cá Ông không chỉ mang tính tín ngưỡng mà còn là ngày tết của vạn chài – thời điểm tâm thức cộng đồng cùng hướng về biển cả với niềm tin vào sự phù trợ của thần linh. Nó nhắc nhở ngư dân rằng hướng về thần linh sẽ có sự phù trợ, giúp những chuyến ra khơi bình an, cá tôm đầy khoang và cho phép họ vượt qua nỗi sợ hãi trước biển khơi rộng lớn. Vì vậy, mỗi khi tổ chức lễ Nghinh Ông, Cầu ngư, ngư dân thường trút bỏ âu lo, hồ hởi và phấn khởi tin vào những chuyến biển bình an và hiệu quả, khiến Cá Ông thực sự trở thành biểu tượng tốt lành trong đời sống và tâm linh cộng đồng ven biển và hải đảo. 

tuc tho ca ong bien dao viet nam nam hai dai tuong quan

Ảnh: Sưu tầm

Thực hiện: Thuỳ Như


Xem thêm: 

Vườn sân thượng: Ốc đảo trên cao

6 resort và khách sạn xanh tại Bali

Khách sạn The Standard Singapore: Ốc đảo nhiệt đới giữa đô thị hiện đại