Trong bối cảnh các vấn đề khủng hoảng môi trường và biến đổi khí hậu được quan tâm, nghệ thuật và thiết kế đang trở thành một phương thức truyền tải thông điệp mạnh mẽ. Bộ sưu tập The Melting của nhà thiết kế Gábor Góbi, mang đến những giải pháp và góc nhìn thú vị về cách phế liệu được tái chế trong sáng tạo.

Ghế tích hợp bàn phụ Throne.
Gábor Góbi đặt ra một nguyên tắc bất di bất dịch cho mình: tuyệt đối không sử dụng vật liệu nhân tạo như nhựa hay chất tổng hợp. Thay vào đó, anh săn tìm những thứ có thể tái chế như gỗ, đá, kim loại… Với anh, “kho báu” nằm ẩn trong những bãi phế liệu hay trong những đợt thu gom rác thải. Quá trình hình thành bộ sưu tập Melting giống như giải đáp một trò chơi ghép hình, khi những bộ phận rời rạc được kết nối với nhau để tạo nên những đồ vật vừa hữu dụng, vừa có tính nghệ thuật.

Đèn bàn Tundra và chân nến Cumulus.
Các thiết kế bao gồm đèn và đồ trang trí được đặt những cái tên giàu sức gợi. Về ánh sáng, Gábor tạo ra đèn bàn Tundra và Volcano, chân nến Wildrose, Pink Dream, Cumulus và Holey Tower. Tác phẩm cuối cùng là Throne Object, đóng vai trò là điểm nhấn chủ đạo. Tất cả đều được thiết kế để kết nối với nhau bằng một logic tự nhiên, tôn vinh những vết nứt và lịch sử ẩn chứa trong vật liệu gốc.

Chân nến Wildrose và đèn bàn Volcano.
Những thiết kế độc đáo của bộ sưu tập truyền tải những thông điệp về môi trường. Các bề mặt gợn sóng và kết cấu được mô tả như ẩn dụ cho hiện tượng hóa lỏng và suy thoái, phản ánh trạng thái của một hành tinh đang chịu áp lực. Thông qua đó, bộ sưu tập đề cập đến trách nhiệm của con người với Trái Đất, đồng thời khám phá sự cân bằng giữa sáng tạo và phân rã. Mục tiêu của nhà thiết kế là chứng minh khả năng chuyển hóa những vật liệu bị vứt bỏ thành tác phẩm có giá trị lâu dài, từ đó mời gọi người xem suy ngẫm về hậu quả của việc tiêu dùng và vẻ đẹp mong manh của thế giới tự nhiên.

Chân nến Pink Dream và chân nến Holey Tower.
Thực hiện: Hoàng Lê | Theo: D5 Mag
Xem thêm
Giá sách – Điểm chạm của không gian sống nghệ thuật
Dự án đồ thủy tinh làm từ vỏ sò đoạt giải Ralph Saltzman Prize