Rảo bước sau khi xe đã dừng ở bến xe Tùng Nghĩa, ghé một quầy bánh mì, nấp vào trong Tùng với cà phê, yaourt và tiếng nhạc vang lên trong một không gian thanh lịch, hãy thả lỏng người, ngắm nhìn phố phường trong lúc cơn buồn ngủ xe khách dần ngấm vào người, tản bộ về khách sạn và nghỉ ngơi. Theo tôi, đó là một nghi thức tương đối lí tưởng để bắt đầu những chuỗi ngày ở thành phố Đà Lạt.

Cafe Tùng khoảng đầu thập niên 1960. Ảnh: Cafe Tùng
Khu Hoà Bình dường như có tất cả những gì bạn có thể cần cho một trải nghiệm Đà Lạt. Sự cô đọng văn hoá ở đây vốn đã trở thành ký ức đô thị của bao thế hệ người bản địa và du khách xa gần. Tiền thân vốn là chợ Cây (Trước khi có chợ Đà Lạt) xuất phát từ khu vực ấp Ánh Sáng, sau này được di dời lên trên đỉnh đồi (Khu Hòa Bình bây giờ), nơi đây nhanh chóng trở thành trung tâm của Đà Lạt, là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa tấp nập của cư dân Pháp – Việt sinh sống tại phố núi.

Chợ Cây sau khi đã di dời từ ấp Ánh Sáng, góc nhìn từ phía cafe Tùng. Ảnh: Tư liệu

Bên hông Chợ Cây. Ảnh: Tư liệu
Sau trận hoả hoạn năm 1931, chính quyền đương thời đã cho thiết kế và xây dựng lại một ngôi chợ mới, nơi mà sau này sẽ trở thành rạp Hoà Bình. Vấn đề khi đó được đặt ra rằng phải xây dựng một ngôi chợ đủ đẹp và mới, nhưng phải đại diện cho một thành phố cao nguyên mang nặng tính bản địa lúc bấy giờ.
Đặc điểm kiến trúc đáng chú ý nhất của ngôi chợ mới có lẽ là phần mặt tiền được thiết kế cách điệu gợi nhớ về họa tiết thổ cẩm Tây Nguyên, cùng huy hiệu phù điêu tạc hình đôi nam nữ người dân tộc: người nữ đeo gùi, người nam tay cầm ngọn giáo nhắm vào con cọp. Bên dưới huy hiệu là câu cách ngôn bằng tiếng Latinh được chiết tự từ danh xưng “DALAT”: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem (tạm dịch: mang đến niềm vui cho người này, mang đến sự mát lành cho người khác).

Quảng trường Hoà Bình, khoảng đầu thập niên 1940. Ảnh: Tư liệu
Đến năm 1958, do quy mô đô thị tăng nhanh sau làn sóng di dân, với nhu cầu về một trung tâm thương mại lớn hơn, cấp tiến hơn, chính quyền đã cho xây dựng chợ Đà Lạt ở phía thung lũng bên cạnh. Đồ án được trụ trì bởi kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức (sau này được chỉnh trang và bổ sung cầu bộ hành, trực tiếp nối chợ Đà Lạt với khu Hoà Bình, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ trụ trì), và chính thức đi vào hoạt động năm 1960.
Chợ Cây chính thức khép lại vai trò lịch sử của mình và được chuyển đổi thành Rạp Hòa Bình, thích nghi với chức năng văn hóa – giải trí mới nhưng “bắt buộc phải giữ nguyên kiến trúc” theo chủ trương của chính quyền. Cái tên Khu Hòa Bình cũng ra đời từ đó.

Quá trình cải tạo chợ Cây – rạp Hoà Bình, khoảng cuối thập niên 1950. Ảnh: Tư liệu
Với quy mô 800 chỗ ngồi cùng hệ thống chiếu bóng và sân khấu hiện đại, để tối ưu chi phí vận hành, phần hành lang luồng ngoài được bố trí các quầy sạp kiosk buôn bán, Rạp Hòa Bình lúc bấy giờ nhanh chóng trở thành rạp chiếu bóng lớn nhất trong số ba rạp của thành phố, bên cạnh rạp Ngọc Hiệp, Ngọc Lan. Tại đây, điện ảnh, cải lương, ca nhạc… đã gắn chặt vào đời sống thị dân mỗi ngày một phong phú và sôi nổi mãi lên.
Cứ thế, Khu Hòa Bình dần trở thành ký ức lõi của một thời thành phố chưa ngủ quên…

Hội trường/rạp Hoà Bình, khoảng đầu thập niên 1970. Ảnh: Tư liệu
Đối chiếu lại với bản thân, kí ức về rạp Hoà Bình với tôi khá mơ hồ. Số lượng phim từng xem ở đây chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nhưng các quầy kiosk bên ngoài thì bán những món đồ chơi trẻ em lúc bấy giờ lại bắt mắt, khiến tôi không khỏi phải ngước nhìn dưới lớp áo mưa mỗi khi được ba mẹ chở ngang vào những đêm mưa phùn. Có một điều rõ ràng công trình vẫn luôn ở đó, lừng lững trong lớp sương mai, và khi những kiosk bắt đầu đóng, những buổi chiếu bóng không còn thường xuyên nữa, đâu đó trong tôi đã có một ý thức rằng nó đang ngủ lịm đi, dần trở thành phông nền của một đô thị đã và đang đổi thay, phát triển với một tiến độ nhanh đáng kể. Lớp đá rửa bắt đầu đầu được sơn lại nhiều lần, gạch lát vỉa hè đang dần nứt ra, phần sảnh trước vốn là nơi tiếp đón trang trọng của những buổi chiếu phim, dần trở thành một “cánh gà” trá hình, đồ đạc ngổn ngang, nhường chỗ cho dàn giáo sân khấu và âm thanh của các sự kiện ngoài trời mang quy mô hoành tráng hơn. Ký ức của đô thị đang dần biến mất vào tiềm thức của nơi chốn, giữa những áp lực của phát triển kinh tế, liệu nào có chỗ tựa cho những di sản đang ngủ quên, và ai sẽ là người đánh thức chúng dậy, trước khi giấc ngủ trở nên vĩnh hằng?
Sau một thời gian vắng bóng các hoạt động biểu diễn, rạp Hoà Bình đã sáng đèn trở lại, với sự kiện giao lưu âm nhạc giữa Đà Lạt và Hàn Quốc, được tổ chức bởi Phố Bên Đồi và sự hỗ trợ trong khâu kiến trúc từ đơn vị VN-a vào tháng 3 vừa rồi, đã đánh thức lại không gian của một công trình văn hoá ngỡ như đã mất, khi chính bản thân công trình được sử dụng lại với đúng chức năng ban đầu đã được đề ra, một tiền lệ mới đã được đặt ra khi các bên liên quan đều thống nhất một điều: Nó phải diễn ra tại đây! Dù cho quá trình chuẩn bị khó khăn với lí do cơ sở vật chất bên trong đang xuống cấp trầm trọng, sự kiện vẫn diễn ra tốt đẹp với sự nhiệt tình và hỗ trợ của phía ban tổ chức và đơn vị tư vấn thiết kế.

Đại diện của Phố Bên Đồi và VN-a bên trong rạp Hoà Bình, chuẩn bị cho sự kiện giao lưu âm nhạc giữa Việt Nam và Hàn Quốc tháng 3/2026. Ảnh: Tư liệu

Ngày 22/5/2026, công trình lịch sử này tiếp tục mở cửa đón công chúng tại sự kiện Lễ trao giải ELLE Beauty Awards 2026 với chủ đề “Archive of Time”.
Việc rạp Hoà Bình hoạt động trở lại giờ đây không phải chỉ là một sự kiện mang tính nhất thời, nó đại diện cho một hướng phát triển đầy tiềm năng, về khai thác, hồi sinh, đánh thức các không gian văn hoá cũ của thành phố, không phải là thỏa hiệp mà là một mệnh đề rắn chắc: Văn hoá lịch sử và lợi ích kinh tế phải phát triển cùng nhau.
Thực hiện: Nguyễn Duy Khiêm
Xem thêm