Từ khi con người biết nung đất thành gốm, bề mặt trơn mịn như toát ra lời mời gọi ghi dấu bằng vết khắc, nét vẽ hay lớp men lấp lánh. Với người Việt, trang trí gốm không đơn thuần chỉ là tô điểm. Qua nhiều thế kỷ, các làng gốm Việt Nam đã phát triển những kỹ thuật trang trí truyền thống phong phú, từ hoa văn khắc nguyên sơ đến hội họa dưới men và tượng gốm kiến trúc. Mỗi món đồ gốm, vì thế, trở thành một bề mặt để kể chuyện bằng đất và lửa.
Trang trí gốm truyền thống: Khắc – in nguyên thủy với gốm Bàu Trúc
Trong lịch sử phát triển của gốm Việt Nam, Bàu Trúc (Ninh Thuận, nay là tỉnh Khánh Hoà) là một trong những làng gốm cổ xưa nhất còn tồn tại, gắn bó mật thiết với cộng đồng người Chăm. Khác với những phương pháp làm gốm thông thường, cách tạo ra gốm Bàu Trúc như một điệu múa độc đáo với đất sét của những người nghệ nhân. Đặc tính mềm, nhão của đất sét địa phương không cho phép họ sử dụng bàn xoay, thay vào đó, các thợ lành nghề đã sáng tạo nên kỹ thuật dân dã “nặn bằng tay, xoay bằng mông”. Với phương pháp này, người thợ gốm buộc phải kiên nhẫn đi giật lùi, tay “bát” khéo léo từng lọn đất để trong ép, ngoài xoa. Trung bình mỗi ngày, họ di chuyển giật lùi từ 10 đến 12km để nặn những khối đất thô kệch thành những chiếc bình, ang, chum, lọ hoàn chỉnh.

Nghệ nhân Chăm đang cặm cụi “nặn bằng tay, xoay bằng hông”. Ảnh: Đi Long Nhong

Hàng trăm lọ gốm ra đời từ đôi bàn tay của người phụ nữ Chăm. Ảnh: Hoàng Nhung
Kỹ thuật trang trí truyền thống trên gốm Bàu Trúc là khắc, ấn hoặc in trực tiếp lên đất ướt trước khi nung. Những đường vạch đơn giản, hoa văn hình học, vỏ sò, dây thừng hay dấu vân tay tạo nên nhịp điệu trang trí mộc mạc nhưng giàu sức biểu cảm. Kết hợp với kỹ thuật nung lộ thiên nhiệt độ thấp, bề mặt gốm thường được hun khói bằng rơm hoặc lá cây, cho ra những đường vân độc đáo và màu sắc trầm ấm, gợi nhớ đến màu đất và khói lửa. Chính sự kết hợp hoàn hảo giữa kỹ thuật và nghệ thuật đã tạo nên những sản phẩm gốm Bàu Trúc có độ bền và tính thẩm mỹ cao.

Mỗi đống lửa bập bùng như một nghi thức thiêng liêng. Ảnh: Ngô Tuấn Kiệt

Từng sản phẩm gốm được người nghệ nhân ở đây nâng niu và gìn giữ như cách họ bảo tồn nền văn hóa dân tộc.
Trang trí hội họa dưới men
Nếu dòng gốm nguyên thủy như Bàu Trúc thể hiện những đường nét trang trí trực tiếp trên đất, thì những trung tâm gốm ở đồng bằng Bắc Bộ lại mở ra một giai đoạn phát triển mới: hội họa dưới men.
Gốm Chu Đậu (Gốm hoa lam)
Tại Chu Đậu (Hải Dương, nay là Thành phố Hải Phòng), từ thế kỷ XIV-XVI, nghệ thuật trang trí gốm đạt đến trình độ tinh luyện với dòng gốm hoa lam nổi tiếng. Trên nền xương gốm trắng được lọc luyện kỹ và pha thêm cao lanh để tăng độ cứng, nghệ nhân dùng bút lông vẽ trực tiếp các họa tiết bằng bột cobalt trước khi phủ men trong và đưa vào lò nung nhiệt độ cao. Khi hoàn thiện, sắc lam hiện lên dưới lớp men bóng, tạo nên chiều sâu thị giác đặc trưng – một thứ “thủy mặc trên gốm” vừa thanh nhã vừa mạnh mẽ.

Đề tài linh thú được thể hiện khoáng đạt, không bị gượng ép, khuôn mẫu chính là nét quen gặp trong gốm hoa lam Chu Đậu. Ảnh: Nguyễn Đình

Đĩa kích cỡ lớn 38cm với các đề tài long viên, chim hoa trong trang trí gốm hoa lam Chu Đậu. Ảnh: Nguyễn Đình
Điểm đặc sắc của gốm Chu Đậu nằm ở tính hội họa phóng khoáng: nét vẽ khi công bút tỉ mỉ, khi phóng bút khoáng đạt, tạo nên nhiều sắc độ lam đậm nhạt khác nhau. Các đề tài trang trí cũng rất đa dạng: từ hoa lá, chim thú, linh vật đến phong cảnh hay sinh hoạt, được tổ chức theo bố cục nhiều tầng lớp, có viền, ô trang trí và nhịp điệu liên hoàn trên thân bình, đĩa hay chum lớn.

Ấm đựng rượu mang tạo hình voi quỳ được vớt từ tàu đắm Cù Lao Chàm. Ảnh: Nguyễn Đình
Không chỉ tinh tế về mỹ thuật, gốm Chu Đậu còn thể hiện sự nhạy bén với thị trường thương mại quốc tế. Nhiều kiểu dáng và kích thước sản phẩm được chế tác nhằm phục vụ xuất khẩu, khiến dòng gốm này từng theo các tuyến thương mại biển lan tỏa khắp Đông Nam Á, Nhật Bản và cả châu Âu từ hơn năm thế kỷ trước.

Bình gốm với mảng đắp tổ ong, sản phẩm xuất khẩu của gốm Chu Đậu ra thị trường thế giới. Ảnh: Nguyễn Đình
Gốm Bát Tràng
Nếu Chu Đậu đại diện cho đỉnh cao của hội họa hoa lam thời Đại Việt, thì Bát Tràng (Hà Nội) lại tiếp nối truyền thống ấy trên một nền tảng kỹ thuật phong phú hơn. Các sản phẩm gốm Bát Tràng như bình, đĩa, chóe, đồ thờ thường có dáng hình chắc khỏe, cân xứng, tạo nên những khung nền lý tưởng cho trang trí. Nghệ nhân sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau: vẽ lam dưới men, khắc chìm, đắp nổi, vẽ men màu hoặc vẽ trên men rạn, khiến bề mặt gốm vừa mang chiều sâu hội họa vừa có nhịp điệu của khối và đường nét.

Một chiếc đỉnh bằng gốm tráng men trang trí đắp nổi rồng và nghê do thợ làng Bát Tràng chế tạo vào năm 1736, thời Cảnh Hưng. Ảnh: Binh Giang

Tượng nghê bằng gốm do thợ gốm làng Bát Tràng làm thời Cảnh Hưng. Ảnh: Binh Giang
Một đặc trưng nổi bật của gốm Bát Tràng là men rạn, lớp men khi nung tạo ra những vết nứt li ti tự nhiên trên bề mặt. Những đường rạn này không phải khuyết điểm mà trở thành yếu tố thẩm mỹ, làm nổi bật các họa tiết rồng, phượng, hoa sen hay tứ quý. Nhờ sự kết hợp giữa tạo hình vững chãi, hệ men phong phú và bút pháp trang trí linh hoạt, gốm Bát Tràng đã mở rộng phạm vi hội họa trên gốm từ đồ gia dụng sang cả đồ thờ.

Bình gốm Bát Tràng, men rạn, thế kỷ 19. Ảnh: Lưu Ly

Một chiếc nậm rượu gốm men rạn được tạo tác dưới niên hiệu Gia Long. Bầu trên chạm nổi 2 hình chim phượng. Bầu dưới chạm nổi 3 hình sư tử ngậm vòng. Nội dung đề tài không chỉ cầu mong cho hạnh phúc đôi lứa mà còn cầu cho quan tước đến bậc Tam sư. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trang trí phù điêu và tượng gốm
Gốm Cây Mai
Trong gốm Nam Bộ, gốm Cây Mai nổi bật với kỹ nghệ trang trí vượt ra khỏi mặt phẳng của hoa văn để tiến vào không gian điêu khắc và kiến trúc. Xuất hiện mạnh vào cuối thế kỷ XIX tại khu vực Chợ Lớn, gốm Cây Mai gắn liền với cộng đồng người Hoa Ngũ Bang định cư tại đây, đồng thời chịu ảnh hưởng kỹ thuật từ các thợ gốm vùng Phật Sơn ở Quảng Đông.
Khác với các dòng gốm thiên về trang trí bề mặt, gốm Cây Mai phát triển mạnh kỹ thuật tạo tượng và phù điêu nhiều lớp phục vụ trang trí đình, chùa, hội quán và miếu thờ của người Hoa tại Sài Gòn – Gia Định xưa. Các tác phẩm thường được cấu tạo từ nhiều chi tiết nhỏ: nghệ nhân vê, nặn, cắt, dán, tỉa, khắc và chấm men rồi ghép lại thành những quần thể trang trí lớn trên mái hoặc mặt đứng kiến trúc. Nhờ phương pháp chế tác phức hợp này, các bức phù điêu gốm trở thành một sân khấu thu nhỏ, nhiều nhân vật và cảnh trí được dàn dựng thành từng phân cảnh liên hoàn.

Hình tượng Hà Tiên Cô tay cầm đóa sen với tạo hình, phủ men mang nét riêng của gốm Cây Mai vùng Chợ Lớn. Ảnh: Nguyễn Đình
Hệ tượng gốm Cây Mai có thể chia thành hai nhóm rõ rệt. Thứ nhất là tượng thờ, tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn hình tướng và thần thái của các nhân vật tín ngưỡng như Ngọc Hoàng, Bồ Tát, La Hán hay các bộ tượng Tam Đa, Bát Tiên. Thứ hai là tượng trang trí kiến trúc, nơi nghệ nhân có nhiều tự do hơn trong tạo hình. Những mảng phù điêu thường tái hiện các tích truyện quen thuộc trong văn hóa Á Đông như Tây Du Ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa hay các trích đoạn từ kinh kịch, tạo nên những hoạt cảnh gốm sinh động trên mái miếu và hội quán.

Một mảng trang trí tiếu tượng gốm Cây Mai của nhà sưu tập Trần Như Lợi, Vũng Tàu. Ảnh: Nguyễn Đình

Hoạt cảnh Bát Tiên được thiết tiên tửu trong vườn đào của Tây Vương Mẫu, lò Hòa Lợi làm năm 1892. Ảnh: Nguyễn Đình
Một đặc trưng dễ nhận diện của gốm Cây Mai là màu men xanh lục đậu, kết hợp với các mảng men vàng, nâu hoặc những chi tiết để mộc không phủ men. Khi nung, phần đất lộ thiên chuyển sang sắc trắng ngà hoặc nâu nhẹ, tạo nên tương phản tự nhiên giữa men và xương gốm. Chính sự pha trộn giữa men màu, đất nung và cấu trúc khối đã đem lại cho tượng gốm Cây Mai vẻ đẹp vừa mộc mạc vừa sống động.

Tượng Nhật – Nguyệt thuộc một trong số hơn 20 mẫu tượng cùng loại của gốm Cây Mai. Ảnh: Nguyễn Đình
Dù thời gian tồn tại không dài (chủ yếu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX), gốm Cây Mai vẫn để lại dấu ấn rõ rệt trong mỹ thuật Nam Bộ. Những quần thể tượng gốm trên các chùa miếu ở Chợ Lớn, Biên Hòa hay Bình Dương ngày nay vẫn là minh chứng cho một giai đoạn mà trang trí gốm đã hòa nhập trực tiếp vào kiến trúc, biến đất nung thành những câu chuyện thị giác sống động giữa không gian đô thị phương Nam.
Hội họa dân gian truyền thống trên đồ gia dụng
Gốm Lái Thiêu
Trên bản đồ gốm Nam Bộ, Lái Thiêu (Bình Dương, nay là Thành phố Hồ Chí Minh) là một trung tâm sản xuất quan trọng từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, nơi nghệ thuật trang trí gốm gắn liền với đồ gia dụng và đời sống thường nhật qua các loại tô, dĩa, khạp, lu, bình hay đồ thờ gia đình.
Sự phát triển của gốm Lái Thiêu gắn với các cộng đồng thợ gốm người Hoa di cư từ Quảng Đông và Phúc Kiến, mang theo kỹ thuật lò nung, cách pha men và truyền thống trang trí của các lò gốm miền Nam Trung Hoa. Trong số đó, hệ lò Ngũ Thái từng nổi tiếng với nhiều dòng sản phẩm đa dạng, từ đồ gia dụng đến đồ trang trí, góp phần định hình phong cách gốm Lái Thiêu trong giai đoạn hưng thịnh đầu thế kỷ XX.

Mỗi kiểu dáng của cốt gốm, người thợ vẽ sẽ thể hiện các đề tài phù hợp, có tính ngẫu hứng và yếu tố độc bản. Ảnh: Nguyễn Đình

Ống bút với lối công bút, phóng bút rất tự nhiên, bố cục hoàn chỉnh. Ảnh: Nguyễn Đình
Điểm nổi bật của gốm Lái Thiêu nằm ở tính hội họa trực tiếp trên đồ dùng. Nghệ nhân thường vẽ hoặc in hoa văn lên bề mặt gốm trước khi phủ men, tạo nên những hình ảnh vừa sinh động vừa gần gũi. Đề tài trang trí phong phú nhưng cũng không kém phần thân thuộc như: hoa điểu, cá, chim công, phong cảnh sông nước hay các tích truyện dân gian. Nét vẽ có khi mềm mại, tỉ mỉ; có lúc phóng khoáng và tự nhiên, mang đậm tinh thần mỹ thuật dân gian.

Cá, gà, tùng, hạc, sơn thủy… đều là những đề tài cổ điển trong trang trí gốm Lái Thiêu xưa. Ảnh: Nguyễn Đình
Bảng màu men của gốm Lái Thiêu khá đa dạng, nổi bật nhất là sắc lam của men thanh hoa[1], bên cạnh các màu xanh lục, vàng, nâu hay men nhiều màu. Trên những chiếc tô dĩa lớn, nghệ nhân còn tổ chức bố cục trang trí theo nhiều lớp: trung tâm là hình ảnh chính, xung quanh là các dải hoa văn hoặc đường viền, khiến mỗi món đồ gia dụng giống như một bức tranh nhỏ.

Các sắc màu biểu đạt sống động hình ảnh cổ đồ, lư hương tỏa khói như một tác phẩm hội họa. Ảnh: Nguyễn Đình
Chính nhờ sự kết hợp giữa tính ứng dụng và tinh thần hội họa gần gũi, gốm Lái Thiêu đã tạo nên một phong cách trang trí riêng: không cầu kỳ như đồ gốm cung đình, cũng không thuần túy điêu khắc như gốm kiến trúc, mà mang vẻ đẹp thân thuộc, phản ánh đời sống và tâm thức của vùng đất phương Nam đang hình thành và phát triển mạnh mẽ.

Đĩa quả tử vẽ cảnh “Anh hùng độc lập chiếm tùng lâm”. Ảnh: Nguyễn Đình

Gạc-bù-lệch[2] mang lối vẽ tam lam trên gốm Tiều. Ảnh: Nguyễn Đình
Kỹ nghệ trang trí truyền thống mang tư duy mỹ thuật hiện đại
Gốm Biên Hòa
Nếu gốm Lái Thiêu phản ánh đời sống thường nhật của vùng đất phương Nam qua những hình ảnh dân gian gần gũi, thì gốm Biên Hòa lại đánh dấu một bước chuyển quan trọng: sự hình thành của gốm mỹ thuật theo tư duy tạo hình hiện đại.
Sự phát triển của dòng gốm này gắn liền với sự ra đời của Trường Bá nghệ Biên Hòa năm 1903 (nay là Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai), nơi nghề gốm được giảng dạy một cách bài bản. Từ đây, kỹ thuật thủ công truyền thống của thợ gốm địa phương được kết hợp với phương pháp đào tạo mỹ thuật phương Tây, tạo nên một hướng phát triển mới cho gốm Nam Bộ. Đặc biệt từ thập niên 1920, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia gốm người Pháp như vợ chồng Balick, nghệ nhân Biên Hòa đã nghiên cứu và phát triển nhiều loại men mới, mở rộng khả năng tạo hình và trang trí cho sản phẩm gốm.

Trụ rồng – một tác phẩm tiêu biểu do các thầy trò trường Mỹ nghệ Biên Hòa thực hiện trước 1945. Ảnh: Hải Đông
Về kỹ thuật tạo hình, gốm Biên Hòa kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp: tạo dáng trên bàn xoay, rót khuôn hoặc đắp trực tiếp để hình thành các mảng phù điêu. Sau khi định hình, bề mặt sản phẩm thường được khắc chìm, đắp nổi hoặc trổ thủng trước khi phủ men và nung. Chính sự phối hợp giữa tạo khối, đường nét và lớp men màu đã tạo nên những sản phẩm có tính điêu khắc rõ rệt, từ bình, lọ, chậu hoa đến tượng thú, đôn voi hay các mảng trang trí kiến trúc.

Quần thể “hí tượng” (tượng vui) trang trí trên nóc mái đình Tân Lân miêu tả các điển tích trong chương hồi cổ điển Trung Quốc, đây là nét văn hóa đặc trưng trong trang trí kiến trúc theo “công nghệ miếu vũ” của người Hoa xưa vùng Đồng Nai – Gia Định. Ảnh: Hải Đông
Một đặc điểm quan trọng làm nên bản sắc gốm Biên Hòa là nghệ thuật phối men nhiều màu. Các lớp men được pha chế từ nguyên liệu bản địa như tro rơm, tro trấu, vôi và đá trắng, tạo nên những sắc độ phong phú từ xanh lam, xanh đồng đến các gam nâu, vàng và men trắng. Trong đó nổi tiếng nhất là sắc men xanh đồng trổ bông (vert de Bien Hoa) – một màu men đặc trưng được giới sưu tầm quốc tế nhận diện như dấu ấn riêng của gốm Biên Hòa.

Ảnh: Hải Đông

Ảnh: Hải Đông
Nhờ sự kết hợp giữa tư duy tạo hình, kỹ thuật trang trí và hệ men phong phú, mỗi sản phẩm gốm Biên Hòa thường được xử lý như một bố cục mỹ thuật hoàn chỉnh, đưa gốm Biên Hòa vượt khỏi phạm vi của đồ thủ công truyền thống để trở thành một dòng gốm mỹ thuật tiêu biểu của Việt Nam trong giai đoạn cận hiện đại.
Chú thích:
[1] Thanh hoa là cách gọi theo từ Hán – Việt của dòng gốm trang trí màu lam dưới men, sử dụng bột cobalt để vẽ họa tiết trên xương gốm trước khi phủ men và nung ở nhiệt độ cao. Trong tiếng Việt, thuật ngữ này được gọi là hoa lam. Hai cách gọi thực chất chỉ cùng một kỹ thuật trang trí gốm bằng men xanh-trắng, nhưng hoa lam là cách diễn đạt Việt hóa hơn nên được sử dụng cho các dòng gốm thuần Việt, còn dòng gốm do cộng đồng người Hoa chế tác trên đất Việt (như gốm Lái Thiêu) gọi là thanh hoa.
[2] Gạc-bù-lệch là cách đọc Việt hóa của một từ gốc Pháp “gargoulette”. Đây là tên gọi của một dạng chai hoặc bình đựng nước bằng gốm, phổ biến trong các dòng gốm Nam Kỳ đầu thế kỷ XX, đặc biệt ở các lò gốm Sài Gòn – Chợ Lớn.
Thực hiện: Thuỳ Như
Xem thêm:
Trường kỷ trong nội thất truyền thống Việt Nam